Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN ĐÀN TRAO ĐỔI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN ĐÀN TRAO ĐỔI. Hiển thị tất cả bài đăng

16 thg 4, 2013

Dân biểu nói bừa

Phát biểu trước buổi điều trần về nhân quyền Việt Nam tại Hạ viện Mỹ, dân biểu Chris Smith, Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ nói trên BBC rằng: Cần đưa Việt Nam quay lại danh sách các nước gây quan ngại (CPC) về tôn giáo. Một trong những lý do theo ông Smith là các cuộc đàn áp tôn giáo tại Việt Nam có tính “hệ thống”, dẫn đến những trường hợp “đánh đập, tra tấn và tống giam” đối với những người theo Phật giáo, Công giáo hay các tín ngưỡng khác.

Chỉ mới nghe qua giọng điệu ấy, dư luận người Việt Nam chân chính ở cả trong và ngoài nước đã hiểu dụng ý của dân biểu Chris Smith – một người chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam.

Cần khẳng định một điều rằng: Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó là nhu cầu tất yếu trong đời sống tinh thần của người dân. Các tôn giáo ở Việt Nam được bảo đảm hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật. Các chủ trương, chính sách về tôn giáo mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra là hết sức đúng đắn. Những chủ trương, chính sách đó đã đem lại những kết quả tốt đẹp, hoạt động tôn giáo ngày càng phát triển tích cực, sinh hoạt tôn giáo ổn định; lòng tin của đồng bào có đạo vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố; bản thân từng tôn giáo hoạt động thuận lợi hơn... Hiện nay, trên cả nước Việt Nam có 13 tôn giáo với 36 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động với gần 24 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số), 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, 25.000 cơ sở thờ tự, trong đó riêng Phật giáo có khoảng 11 triệu tín đồ, Công giáo khoảng 7 triệu tín đồ…

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, nhưng Việt Nam không thể chấp nhận những kẻ cơ hội, đội lốt tu hành, lợi dụng tôn giáo để kích động chống đối chính quyền, gây rối an ninh, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc như một số nhân vật mà dân biểu Chris Smith đang “ca tụng”. Một thực tế không thể chối bỏ là các thế lực thù địch phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để kích động, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định chính trị-xã hội ở Việt Nam. Cùng với tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân, nhất là đồng bào có đạo hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, từ đó đề cao cảnh giác để không mắc mưu chúng, Việt Nam tỏ rõ thái độ kiên quyết đấu tranh, lên án mọi hành động sai trái, làm tổn hại đến lợi ích của dân tộc. Mặt khác, bằng nhiều biện pháp, các cơ quan chức năng của Việt Nam kịp thời ngăn chặn những việc làm sai trái, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh những hành vi kích động tôn giáo nhằm mất ổn định chính trị, xã hội. Những nhân vật mà ông Chris Smith dẫn ra trong lời phát biểu là những người đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật và dù theo hay không theo tôn giáo nào những người đó đều phải chịu những hình phạt của luật pháp. Đây là việc làm bình thường không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia trên thế giới.

Những phát biểu của ông Chris Smith, thực chất là hành vi bao che, dung túng và hậu thuẫn cho phần tử đội lốt tôn giáo, lợi dụng tôn giáo để chống đối Nhà nước Việt Nam. Mặt khác, đó là hành động trắng trợn can thiệp công việc nội bộ, xuyên tạc, vu khống Nhà nước Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo.

KIM NGỌC - QĐND

13 thg 4, 2013

Một hiện tượng xấu cần loại bỏ trong đời sống xã hội


Đó là hiệu ứng đưa quan tài đi giải quyết vụ việc. Tháng 8 năm 2010 gia đình anh Khương ở Bắc Giang cùng nhiều người đưa quan tài đến UBND tỉnh để đòi giải quyết cái chết oan khuất của anh tại trụ sở CA huyện Tân Yên; Tháng 12 năm 1012 người dân Đông Triều, Quảng Ninh đem theo cả quan tài để chống thu hồi dất; Tháng 1 năm 2013 gia đình anh Ái ở TX Thái Hòa, Nghệ An đem quan tài đến CA thị xã đòi công lí; Rồi ngày 17 tháng 3 vừa rồi người dân thành phố Vĩnh Yên lại đem quan tài đến một địa điểm trung tâm TP đòi làm rõ cái chết của anh Tuấn Anh. 
Những hình ảnh hết sức phản cảm và loạn về trật tự luật pháp. Đúng là “chết mà chẳng yên”, câu “nghĩa tử là nghĩa tận” đã không còn chỗ đứng trong xã hội khi mà cái xác của họ còn phải làm thêm một việc đòi công lí. Hình ảnh chỉ có thể xuất hiện tại Việt Nam.
Vì vậy, chính quyền cần phải có thái độ ứng xử sao cho có trách nhiệm, xứng đáng là người công bộc của nhân dân. Việc đưa quan tài đến trụ sở công quyền gây sức ép có nguyên nhân từ cách làm việc tắc trách, hoặc thái độ ứng xử không đúng mực của cán bộ, bao che cho cái sai của thuộc cấp làm dân nghi ngờ, phẫn nộ. Trong vụ ở Bắc Giang gia đình và người dân phẫn nộ do lúc đầu chính quyền không minh bạch về nguyên nhân gây nên cái chết của anh Khương. Còn vụ ở Vĩnh Phúc, rõ ràng là án mạng nhưng ban đầu những người có trách nhiệm xử lí như là một vụ tai nạn do say rượu, khiến gia đình và người dân cảm thấy khuất tất.
Về phía người dân, luật khiếu nại, tố cáo đã có, thiết nghĩ nếu còn điều gì đó bất đồng với chính quyền thì cũng đừng hành hạ người chết như vậy. Chắc chắn vụ việc có được giải quyết rốt ráo thì cũng không phải vì sợ cái quan tài đâu. Làm như vậy là có tội với linh hồn người chết. Hơn nữa, đem quan tài đến công sở để đấu tranh là việc làm bất hợp pháp, những người chủ xướng, tham gia đều có thể vi phạm luật pháp về hành vi ứng xử của mình.

Góc nhìn khách quan về hành vi của Đoàn Văn Vươn


Dư luận đang quan tâm đến vụ xét xử Đoàn Văn Vươn, nhiều ý kiến còn cho rằng có "uẩn khúc" trong quá trình xét xử này, TỄU xin lấy một vài số liệu chân thực để cộng đồng mạng hiểu đúng, hiểu rõ về vụ việc, đừng để bị lôi kéo vào những hành động bộc phát.
1. Đoàn Văn Vươn đã bàn bạc với Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Thoại, Đoàn Văn Vệ, Phạm Thái làm hàng rào, trải rơm, làm mìn tự tạo, chuẩn bị súng bắn đạn hoa cải và đã sử dụng mìn, súng bắn vào những người làm nhiệm vụ cưỡng chế khu đầm của Đoàn Văn Vươn theo sự phân công của UBND huyện Tiên Lãng. Hậu quả, làm 7 người đang thực thi công vụ bị thương. Tuy các lần nổ súng và hành vi gây nổ mìn, bình ga trên lối vào của đoàn công tác chưa dẫn đến hậu quả chết người nhưng tính chất là rất manh động, nguy hiểm... Như vậy, có đủ cơ sở xác định các bị cáo đã có cùng hành vi phạm tội giết người theo quy định tại Điều 93 Bộ Luật hình sự. Việc Đoàn Văn Vệ không mua được súng là ngoài ý muốn, vì vậy Đoàn Văn Vệ là đồng phạm tội giết người. Trong vụ án này, Đoàn Văn Vươn là người chủ mưu; Đoàn Văn Quý tham gia một cách đắc lực; Đoàn Văn Vệ, Đoàn Văn Sịnh đóng vai trò đồng phạm trợ giúp.
2. Đối với Nguyễn Thị Thương và Phạm Thị Báu đã giúp sức cho Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh chống lại những người thi hành công vụ và có hành vi trực tiếp tham gia làm hàng rào, trải rơm, mua xăng, mua mũ len để tạo điều kiện cho các bị cáo khác thực hiện hành vi chống đối những người thi hành công vụ, do vậy, đủ cơ sở xác định các bị cáo Thương và Báu đã có hành vi chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 257 Bộ Luật hình sự.

10 thg 4, 2013

Thực hư về những người khởi xướng: Công lý cho Đoàn Văn Vươn



Xem hình
Với bản lĩnh và phong cách sinh viên Luật, trước mỗi sự việc, chúng ta phải có sự tiếp nhận thông tin một cách đa chiều và biết thể hiện tiếng nói của mình đúng nơi, đúng lúc. Đặc biệt, là sinh viên Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta phải biết nói “KHÔNG” trước những hành động sai trái, đi ngược lại với đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Gần đây, một số trang mạng và phương tiện thông tin đại chúng đang đề cập đến bản “Tuyên ngôn: Công lý cho Đoàn Văn Vươn” được khởi xướng bởi nhóm ba sinh viên trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh. Đi kèm bản tuyên ngôn là lời kêu gọi cộng đồng mạng ký tên ủng hộ cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn nhằm tạo sức ép lên các cơ quan chức năng trong bối cảnh Tòa án nhân dân Tp. Hải Phòng đang tiến hành xét xử vụ án này. Dưới góc độ những sinh viên đang học tập tại trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng tôi xin đề cập đến những khía cạnh thực chất đằng sau những sinh viên khởi xướng vấn đề này.
Thứ nhất, phải khẳng định rằng những cá nhân này không phải là đại diện cho tiếng nói sinh viên Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh nói chung trong việc khởi xướng nên “tuyên ngôn” này.Thực chất, đây chỉ là hành động nhằm mục đích đánh bóng tên tuổi cá nhân hoặc bị ảnh hưởng bởi những luồng tư tưởng phiến diện. Bởi vì, đây chỉ là những sinh viên năm hai, năm ba, chưa có sự tiếp cận một cách đầy đủ nhất về những quy định của pháp luật Việt Nam cũng như hệ thống pháp luật quốc tế.
Bên cạnh đó, sự hạn chế về mặt tư duy pháp lý của những sinh viên này còn được thể hiện phần nào qua sự hạn chế về kết quả học tập. Điển hình như: sinh viên Phạm Lê Vương Các điểm tích lũy học tập chỉ đạt 5.23 (xếp loại Trung bình yếu theo điểm tín chỉ)  và có nhiều môn thi chưa đạt, trong đó có môn Luật Hình sự phần chung; sinh viên Bùi Quang Viễn là học viên văn bằng hai với điểm tích lũy là 5.19 và cũng trong tình trạng còn nợ nhiều môn. Như vậy, phải chăng bản “tuyên ngôn” này là sản phẩm của những người có tư duy pháp lý chặt chẽ hay thực chất chỉ là hình thức đánh bóng tên tuổi cá nhân? Mượn "mác" sinh viên Luật để đánh bóng tên tuổi cá nhân?
Thứ hai, đa phần những sinh viên này hầu như không tham gia vào các hoạt động của trường nên không nắm bắt được hết tư tưởng, quan điểm định hướng dành cho sinh viên Luật. Do vậy, ở một khía cạnh nào đó, họ có thể đã bị tác động bởi những luồng tư tưởng không chính thống dẫn đến những hành động mang tính chất như vậy. Do đó, nội dung “tuyên ngôn” của nhóm sinh viên này trong những ngày qua không thể nào tạo nên sức ép đối với cơ quan xét xử được.
http://doanthanhnienluat.com/uploads/hinhtin/2011/images/vuon-sinh-480.jpg
Vụ án Đoàn Văn Vươn đã có kết luận và Tòa đã tuyên án theo tinh thần "đúng luật, đúng người, đúng tội"

Bởi lẽ, Hiến pháp nước ta quy định rất rõ: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”(Điều 130). Nếu theo dõi vụ án này một cách đầy đủ và cặn kẽ thì có thể thấy rằng hành vi sử dụng súng hoa cải và vật liệu nổ để chống lại lực lượng cưỡng chế của anh em ông Đoàn Văn Vươn là hành vi vi phạm pháp luật. Dẫu biết rằng, một phần nguyên nhân dẫn đến sự việc này cũng xuất phát từ những hạn chế trong quản lý của chính quyền địa phương. Việc xác định trách nhiệm pháp lý của các bên thuộc về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước. Và hiển nhiên,mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cho nên, hành động khởi xướng “tuyên ngôn” như vậy không thể đem lại hiệu quả đòi công lý giống như trong nội dung của nó, ngược lại hành động này lại tạo nên ảnh hưởng xấu đến dư luận nói chung và cộng đồng Đoàn viên, sinh viên trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh nói riêng.
http://doanthanhnienluat.com/uploads/hinhtin/2011/images/pcsvl4%20%20-%20Copy.png
Sinh viên Luật đi đầu trong trong chấp hành và tôn trọng pháp luật là một trong 4 tiêu chí của chương trình Phong cách sinh viên Luật

Từ sự việc nêu trên, với vai trò là Đoàn viên, sinh viên Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta phải biết cách lên tiếng thể hiện quan điểm của mình trước những vấn đề của xã hội. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ cổ súy cho những hành động tiêu cực để vô tình trở thành mục tiêu cho dư luận và các thế lực thù địch chống phá. Với bản lĩnh và phong cách sinh viên Luật, trước mỗi sự việc, chúng ta phải có sự tiếp nhận thông tin một cách đa chiều và biết thể hiện tiếng nói của mình đúng nơi và đúng lúc. Đặc biệt, là sinh viên Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, chúng ta phải biết nói “KHÔNG” trước những hành động sai trái, đi ngược lại với đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước.



9 thg 4, 2013

Góp ý dự thảo Hiến pháp 1992 – Không có chổ cho những kẻ cơ hội


Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được công bố rộng rãi và đang được toàn Đảng, toàn dân ta hưởng ứng sôi nổi với ý thức trách nhiệm cao. Lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là công việc rất hệ trọng. Việc lấy ý kiến người dân phải “vừa sâu, vừa rộng...”. Đi kèm với đó cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch...
Những quan điểm sai trái, những luận điệu phản động được họ soạn thảo thành những tài liệu xấu mạo danh, nặc danh, thậm chí họ còn soạn ra hẳn một dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới với Bản dự thảo Hiến pháp duy nhất do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Quốc hội công bố tổ chức lấy ý kiến nhân dân… phát tán trên internet nhằm kích động, lôi kéo người dân; lợi dụng việc đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước. Đó là những luận điểm hết sức sai trái và không thể chấp nhận. Thực tế đòi hỏi các cơ quan chức năng cùng với việc quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân nghiên cứu; thể hiện rõ quan điểm, thái độ, ý kiến đồng tình hay không đồng tình của mình đối với từng điều khoản trong dự thảo, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, giúp người dân nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái, không vì mục đích xây dựng đại cục mà theo đuổi động cơ, mục đích cá nhân để chống phá Đảng và Nhà nước ta. 

27 thg 3, 2013

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 - một bước tiến lớn về hiến định chế độ "đa nguyên, đa đảng" ở Việt Nam


Từ hàng chục năm nay các “lực lượng dân chủ” ở nước ta (cả quốc nội lẫn quốc ngoại) đã bằng nhiều con đường khác nhau, với nhiều cách khác nhau để có thể xoá bỏ được chế độ - mà một số người vẫn gọi là “chế độ đảng trị” - ở Việt Nam. Mặc dù cuộc đâú tránh đó đã tỏ ra bền bỉ, đã tranh thủ được sự đồng tình, trợ giúp của bạn bè ở các chế độ dân chủ trên thế giới song Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tỏ ra kiên trì quan điểm “độc quyền lãnh đạo” của mình và thực lòng có lẽ cả đa số người dân trong nước đều không mấy mặn mà, đồng tình với “con đường dân chủ hóa” mà các “nhà dân chủ” của chúng ta đã đưa ra.
Thế nhưng, gần đây một điều khó tin mà có thật đã xảy ra làm nức lòng những nhà dân chủ. Đó chính là sự kiện ngày 2 tháng 01 năm 2013, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của nhà nước Việt Nam chính thức công bố “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Tại điều 120 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đưa ra chế định “Hội đồng Hiến pháp” và  Hội đồng Hiến pháp có quyền hạn “kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn”.
Như vậy, nếu được thông qua, Hội đồng Hiến pháp (nếu mạnh dạn hơn thì phải đưa ra chế định về Toà án Hiến pháp chứ không phải Hội đồng Hiến pháp – có lẽ các nhà hoạch định còn ngần ngại gì đó mà không dám nêu thẳng ra chăng?) là tổ chức có chức năng điều hoà lợi ích của các đảng phái chính trị, là cơ quan độc lập, đứng ngoài và đứng trên các đảng phái, kể cả đảng phái chính trị đối lập lẫn đảng cầm quyền.
Là những người dân chủ, các bạn có phấn khởi không nếu quy định nói trên trở thành hiện thực trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? Tôi cho rằng nếu điều này trở thành hiện thực thì có lẽ không cần thiết phải bỏ Điều 4 (quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với nhà nước và xã hội) của Hiến pháp nữa vì tự nó đã vô hiệu hóa Điều 4 rồi./.
Dân sinh

22 thg 3, 2013

Vai trò của Đảng đối với nhà nước và xã hội


Thời gian qua, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1992, đưa bản dự thảo Hiến pháp ra lấy ý kiến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, trên một số trang mạng Internet các cá nhân, tổ chức phản động tăng cường hoạt động tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội; đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng.
         Các đối tượng sử dụng nhiều lập luận với những thủ đoạn khác nhau để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng tựu chung lại chúng cho rằng độc đảng là độc quyền, là không có dân chủ; độc đảng sẽ không khắc phục được quan liêu, tham nhũng, tha hóa và như vậy đất nước sẽ không phát triển được. Rằng xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp đang là nguyện vọng của người dân Việt Nam, từ đó chúng hô hào mọi người ký tên này nọ, tranh đấu này kia như những “con rối”.
         Đây thực sự là những luận điệu thể hiện ý thức chống đối sâu sắc trên một nền tư duy chính trị non nớt, vô căn cứ khoa học và thực tiễn.
         Trước hết phải khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử, đã và hiện nay vẫn đang được đại đa số người dân Việt Nam ủng hộ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn lịch sử chứng minh: Từ khi thành lập năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành hạt nhân lãnh đạo, là lực lượng đại diện, đại biểu trung thành lợi ích của nhân dân Việt Nam, đã đoàn kết toàn dân tộc ta đấu tranh giành được những thắng lợi vẻ vang: Đánh bại hai tên thực dân, đế quốc sừng sỏ bậc nhất thế giới là Pháp và Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc. Cùng với tiến trình lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, Đảng Cộng sản với bản chất cách mạng chân chính đã dần tạo được niềm tin và được quần chúng nhân dân suy tôn là lực lượng lãnh đạo, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi khó khăn, đưa đất nước không ngừng phát triển. Những thành tựu đạt được của gần 30 năm đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,  an ninh - quốc phòng đã minh chứng năng lực lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin của quần chúng.
Tuy còn một số tồn tại, yếu kém trong lãnh đạo quản lý kinh tế, xã hội; trong Đảng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng dẫn đến có hiện tượng tiêu cực về đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng đối với nhân dân; nhưng điều quan trọng là Đảng ta đã nhận rõ và đang tăng cường các biện pháp quyết liệt (Nhất là thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW4 Khóa XI) xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, để Đảng luôn giữ được niềm tin yêu và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.
Và hơn hết, trái ngược hẳn với những luận điệu tuyên truyền của các đối tượng phản động thù địch, hiện nay nhân dân Việt Nam vẫn đặt niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, với một quá khứ lịch sử vẻ vang cùng dân tộc, với bản chất cách mạng sẽ thực hiện thành công công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, khắc phục vấn đề còn tồn tại, hạn chế, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Những ai không cảm nhận được niềm tin đó của nhân dân, thì hoặc là kẻ sa rời thực tiễn, hoặc là kẻ thâm thù với Đảng, với cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, quan điểm cho rằng độc Đảng lãnh đạo là độc quyền, là mất dân chủ, là dẫn đến quan liêu, tham nhũng là không có cơ sở lý luận và thực tiễn.  Về lý luận, độc quyền tức là quyền lực Nhà nước nằm trong tay một người hoặc một nhóm người nào đó và chúng sử dụng quyền lực này để mưu lợi cho bản thân. Như vậy Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng do sự tín nhiệm của nhân dân mà được nhân dân suy tôn giữ vai trò đại diện gánh sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhằm bảo vệ lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, do đó, nói Đảng Cộng sản Việt Nam là độc quyền, mất dân chủ trên phương diện này là hoàn toàn sai lầm.
Về thực tiễn cho thấy, ngay ở các nước tư bản với chế độ đa nguyên, đa đảng lại thường xuyên xảy ra hiện tượng độc quyền, quyền lực Nhà nước do một người hoặc một nhóm người năm giữ để phục vụ lợi ích cho nhóm thiểu số đó, điển hình như các chế độ độc tài gia đình trị ở các nước Bắc Phi và Trung Đông, mà trong thời gian gầy đây chúng ta biết đến với các cuộc nổi dậy của người dân lật đổ các chế độ độc tài này ở Ly Bi, Ai Cập, Tuynidi….. Hay lùi về lịch sử đó là chế độ độc tài Duce Benito Mussolini, từ 1925 tới 1943 tại Ý; chế độ độc tài Ferdinand Marcos ở Philipin, từ 1972 đến 1986; chế độ độc tài Pinochet ở Chi Lê, từ năm 1973 tới 1990; Chế độ độc tài Park Chung Hee, từ năm 1961 – 1979, tại Hàn Quốc…. đã gây ra bao tội ác đối với nhân dân của các nước này. Do vậy đánh đồng độc Đảng lãnh đạo là độc quyền, đa Đảng là tự do, dân chủ như chúng thấy ở trên là áp đặt không có căn cứ thực tiễn.
Như vậy, không cần phải đưa ra kết luận thì mọi người đều có thể tự mình đánh giá được những luận điệu trên đúng hay sai? cũng như bản chất thực sự của những kẻ đưa ra những luận điệu xuyên tạc, áp đặt, vu khống đó. Liệu chúng có phải vì sự phát triển của dân tộc Việt Nam như chúng đang tự tung hô với nhau hay là vì động cơ thấp hèn, bởi sự hận thù sâu sắc với cách mạng, tâm lý của những kẻ bại trận, một thời ôm chân đế quốc phản bội lại tổ quốc Việt Nam này?.
Hơn bao giờ hết, với lần sửa đổi Hiến pháp lần này, khi các thế lực thù địch, phản động với cách mạng đang ra sức tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, chúng ta không được mơ hồ, mất cảnh giác, phải tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đó cũng chính là ý chí và nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân Việt Nam
ĐTC - YN

Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng!


Có thể nói trên thế giới, mỗi quốc gia đều có một thể chế chính trị - xã hội khác nhau nên có lúc đã xảy ra mâu thuẫn giữa các khuynh hướng và định hướng phát triển xã hội. Những nước có bản chất xã hội giống nhau vẫn có những nét đặc thù khác nhau: Chủ nghĩa tư bản Mỹ khác với chủ nghĩa tư bản ở Pháp và cũng khác ở Nhật. Các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc hay Việt Nam cũng có những nét đặc thù riêng. Cho nên ngày nay điều được các nước quan tâm và đặt lên hàng đầu là lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc nên chế độ chính trị của một nước sẽ do nhân dân nước đó chọn ra để cống hiến cho người dân và đất nước. Ở Viêt Nam cũng vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường Xã hội Chủ nghĩa đã được lịch sử và nhân dân Việt Nam lựa chọn; đại diện và vì lợi ích của nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Thực tế lịch sử đã chứng minh khi đất nước phải trải qua những giai đoạn bị sự đô hộ, xâm lăng của thực dân, đế quốc thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã xuất hiện lãnh đạo nhân dân đứng lên dành lại độc lập; Đảng lấy nền tảng cơ sở tư tưởng là Chủ nghĩa Mac Lênnin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đại diện cho giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức, Đảng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng, giữ vững chính quyền mới. Một Nhà nước khác về bản chất so với Nhà nước dưới các chế độ khác, là Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính nhân dân là chủ nhân của Nhà nước, mọi quyền lực của Nhà nước đều là quyền lực của nhân dân, thuộc về nhân dân.
Thời kỳ đất nước ta trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, đế quốc Mỹ rồi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây – Nam, biên giới phía Bắc là một thời kỳ lịch sử đặc biệt: “Đảng ta phải áp dụng những phương thức lãnh đạo đặc biệt, với các biện pháp chính trị cứng rắn, quyết đoán. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện, nhằm thống nhất cao độ sự lãnh đạo chính trị và thực hành chính trị, buộc toàn Đảng, toàn dân phải hy sinh một phần các quyền dân chủ cho mục tiêu trước mắt lớn hơn là độc lập, thống nhất nước nhà. Đặc điểm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở sự hòa quyện, không phân biệt rõ chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước và chức năng Nhà nước quản lý xã hội, Đảng với Nhà nước dường như là một. Đảng đóng vai trò tổng chỉ huy và tổ chức toàn bộ công cuộc kháng chiến và giải phóng đất nước. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà thường rất cụ thể, bao quát các chức năng của Nhà nước”.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 thì cơ chế là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, theo đó ta hiểu Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không điều hành xã hội thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nói rõ phương thức lãnh đạo của Đảng: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”.
Đảng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong đó, xây dựng một đất nước Việt Nam với chủ trương giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quá trình hoạch định đường lối cách mạng, Đảng luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, không giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội. Qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng đều có những chủ chương phù hợp với từng thời kỳ cách mạng của đất nước, thẳng thắn nhận những khuyết điểm, những hạn chế còn tồn tại và đã được Đảng nghiêm túc kiểm điểm, khắc phục thông qua các nghị quyết. Đứng trước những khó khăn trong tình hình mới, Đảng cần có những bổ sung, sửa đổi sao cho phù hợp để tiếp tục phát triển đất nước, điều đó là trách nhiệm của Đảng, của mỗi Đảng viên và cũng là trách nhiệm của toàn dân tộc. Điều đó càng hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay khi các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam; đặc biệt là một số người tự nhận là trí thức, họ bôi nhọ, nói xấu, phủ nhận vai trò của Đảng, đưa ra những luận điểm hết sức phản động mà tự xưng là vì tự do, vì dân chủ, ủng hộ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi xóa bỏ nội dung Điều 4 Hiến pháp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Tôi rất đồng tình với ý kiến rằng: “Bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc ở chỗ, Ðảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì”. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử va thực tiễn chứng minh; đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công con đường cách mạng Việt Nam, phát triển đất nước, cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh.  
  
                                                                              Yêu nước

14 thg 3, 2013

Vạch trần bản chất luận điệu của những kẻ đòi xóa bỏi Điều 4 Hiến pháp 1992


Thời gian qua, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1992, đưa bản dự thảo Hiến pháp ra lấy ý kiến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, trên một số trang mạng Internet các cá nhân, tổ chức phản động tăng cường hoạt động tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội; đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng.

         Các đối tượng sử dụng nhiều lập luận với những thủ đoạn khác nhau để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng tựu chung lại chúng cho rằng độc đảng là độc quyền, là không có dân chủ; độc đảng sẽ không khắc phục được quan liêu, tham nhũng, tha hóa và như vậy đất nước sẽ không phát triển được. Rằng xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp đang là nguyện vọng của người dân Việt Nam, từ đó chúng hô hào mọi người ký tên này nọ, tranh đấu này kia như những “con rối”.

         Đây thực sự là những luận điệu thể hiện ý thức chống đối sâu sắc trên một nền tư duy chính trị non nớt, vô căn cứ khoa học và thực tiễn.

         Trước hết phải khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử, đã và hiện nay vẫn đang được đại đa số người dân Việt Nam ủng hộ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn lịch sử chứng minh: Từ khi thành lập năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành hạt nhân lãnh đạo, là lực lượng đại diện, đại biểu trung thành lợi ích của nhân dân Việt Nam, đã đoàn kết toàn dân tộc ta đấu tranh giành được những thắng lợi vẻ vang: Đánh bại hai tên thực dân, đế quốc sừng sỏ bậc nhất thế giới là Pháp và Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc. Cùng với tiến trình lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, Đảng Cộng sản với bản chất cách mạng chân chính đã dần tạo được niềm tin và được quần chúng nhân dân suy tôn là lực lượng lãnh đạo, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi khó khăn, đưa đất nước không ngừng phát triển. Những thành tựu đạt được của gần 30 năm đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,  an ninh - quốc phòng đã minh chứng năng lực lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin của quần chúng.

Tuy còn một số tồn tại, yếu kém trong lãnh đạo quản lý kinh tế, xã hội; trong Đảng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng dẫn đến có hiện tượng tiêu cực về đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng đối với nhân dân; nhưng điều quan trọng là Đảng ta đã nhận rõ và đang tăng cường các biện pháp quyết liệt (Nhất là thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW4 Khóa XI) xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, để Đảng luôn giữ được niềm tin yêu và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.

Và hơn hết, trái ngược hẳn với những luận điệu tuyên truyền của các đối tượng phản động thù địch, hiện nay nhân dân Việt Nam vẫn đặt niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, với một quá khứ lịch sử vẻ vang cùng dân tộc, với bản chất cách mạng sẽ thực hiện thành công công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, khắc phục vấn đề còn tồn tại, hạn chế, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Những ai không cảm nhận được niềm tin đó của nhân dân, thì hoặc là kẻ sa rời thực tiễn, hoặc là kẻ thâm thù với Đảng, với cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, quan điểm cho rằng độc Đảng lãnh đạo là độc quyền, là mất dân chủ, là dẫn đến quan liêu, tham nhũng là không có cơ sở lý luận và thực tiễn.  Về lý luận, độc quyền tức là quyền lực Nhà nước nằm trong tay một người hoặc một nhóm người nào đó và chúng sử dụng quyền lực này để mưu lợi cho bản thân. Như vậy Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng do sự tín nhiệm của nhân dân mà được nhân dân suy tôn giữ vai trò đại diện gánh sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhằm bảo vệ lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, do đó, nói Đảng Cộng sản Việt Nam là độc quyền, mất dân chủ trên phương diện này là hoàn toàn sai lầm.

Về thực tiễn cho thấy, ngay ở các nước tư bản với chế độ đa nguyên, đa đảng lại thường xuyên xảy ra hiện tượng độc quyền, quyền lực Nhà nước do một người hoặc một nhóm người năm giữ để phục vụ lợi ích cho nhóm thiểu số đó, điển hình như các chế độ độc tài gia đình trị ở các nước Bắc Phi và Trung Đông, mà trong thời gian gầy đây chúng ta biết đến với các cuộc nổi dậy của người dân lật đổ các chế độ độc tài này ở Ly Bi, Ai Cập, Tuynidi….. Hay lùi về lịch sử đó là chế độ độc tài Duce Benito Mussolini, từ 1925 tới 1943 tại Ý; chế độ độc tài Ferdinand Marcos ở Philipin, từ 1972 đến 1986; chế độ độc tài Pinochet ở Chi Lê, từ năm 1973 tới 1990; Chế độ độc tài Park Chung Hee, từ năm 1961 – 1979, tại Hàn Quốc…. đã gây ra bao tội ác đối với nhân dân của các nước này. Do vậy đánh đồng độc Đảng lãnh đạo là độc quyền, đa Đảng là tự do, dân chủ như chúng thấy ở trên là áp đặt không có căn cứ thực tiễn.

Như vậy, không cần phải đưa ra kết luận thì mọi người đều có thể tự mình đánh giá được những luận điệu trên đúng hay sai? cũng như bản chất thực sự của những kẻ đưa ra những luận điệu xuyên tạc, áp đặt, vu khống đó. Liệu chúng có phải vì sự phát triển của dân tộc Việt Nam như chúng đang tự tung hô với nhau hay là vì động cơ thấp hèn, bởi sự hận thù sâu sắc với cách mạng, tâm lý của những kẻ bại trận, một thời ôm chân đế quốc phản bội lại tổ quốc Việt Nam này?.

Hơn bao giờ hết, với lần sửa đổi Hiến pháp lần này, khi các thế lực thù địch, phản động với cách mạng đang ra sức tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, chúng ta không được mơ hồ, mất cảnh giác, phải tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đó cũng chính là ý chí và nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân Việt Nam

ĐTC - YN

6 thg 3, 2013

Không thể áp đặt

Hiện nay, trong khi nhân dân ta đang đóng góp cho Dự thảo Hiến pháp năm 1992, coi đây là một dịp để củng cố và phát triển nền dân chủ XHCN ở Việt Nam thì trên một số trang mạng trong và ngoài nước, một số người lại coi đó là cơ hội để áp đặt vào xã hội ta những quan điểm tư sản về dân chủ, nhân quyền.
Theo họ thì nhất thiết phải "loại bỏ Điều 4 (Hiến pháp năm 1992) khẳng định vai trò lãnh đạo Nhà nước, xã hội của Đảng Cộng sản Việt  Nam", để "chuyển đổi một Nhà nước “độc đảng” sang Nhà nước “đa đảng” tại Việt Nam...".  
Những lập luận của họ xung quanh vấn đề này không có gì mới. Cái mới ở đây chính là người ta đã chọn thời điểm toàn dân đang đóng góp vào Dự thảo Hiến pháp năm 1992 để mở một "chiến dịch" rầm rộ trên các trang mạng điện tử vừa tuyên truyền xuyên tạc, vừa phủ nhận lịch sử Đảng Cộng sản và lịch sử cách mạng Việt Nam, rồi nói như "đinh đóng cột" rằng, "sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam là điều không thể tránh khỏi”. Những người tỉnh táo, có cách nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, công bằng thì lập luận, chứng cứ của họ không có tính thuyết phục.
Về nội dung và quy trình xây dựng Hiến pháp, hiện nay trên thế giới đang tồn tại nhiều hình thức Nhà nước với nhiều chế độ chính trị (cộng hòa dân chủ nhân dân; xã hội chủ nghĩa; quân chủ nghị viện; cộng hòa đại nghị; cộng hòa lưỡng thể; tôn giáo...) vì thế mà nội dung và quy trình xây dựng hiến pháp cũng khác nhau. Nói cách khác không có nội dung và quy trình xây dựng Hiến pháp "mẫu" chuẩn cho các dân tộc.
Xây dựng Hiến pháp là công việc, là chủ quyền của mỗi quốc gia dân tộc. Học hỏi các quốc gia, dân tộc khác là đương nhiên, nhưng không thể sao chép một cách thuần túy hiến pháp của Nhà nước thuộc chế độ chính trị này sang Nnhà nước thuộc chế độ chính trị khác. Kể cả những Nhà nước có chung chế độ chính trị cũng không thể "rập khuôn" hiến pháp của nhau được, vì lịch sử, truyền thống văn hóa, trình độ dân trí, đời sống kinh tế-xã hội mỗi nước một khác.
Còn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Điều 4 Hiến pháp năm 1992 (văn bản cũ và sửa đổi) hoàn toàn có căn cứ lịch sử, chính trị và pháp lý. Về mặt lịch sử, với 3 sự kiện trọng đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành độc lập dân tộc; kháng chiến chống thực dân cũ, thực dân mới thắng lợi và khởi xướng công cuộc đổi mới đều do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Chế độ đa đảng bắt nguồn từ những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nói đơn giản, chế độ đó là kết quả của sự chia sẻ quyền lực giữa các lực lượng chính trị tham gia cách mạng. Cũng có thể nói đó là một cách phân bổ quyền lực nhằm tránh khủng hoảng chính trị, tái diễn xung đột bạo lực. Như vậy là chế độ đa đảng chỉ là sự phản ánh tương quan lực lượng chính trị, chứ không phải là "sự lựa chọn khôn ngoan của lực lượng chính trị chiến thắng" như họ đang rêu rao.
Hơn một nửa thế kỷ qua, cho dù cũng còn những vấp váp, bất cập, thậm chí sai lầm, khuyết điểm, nhưng con đường cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập là hoàn toàn đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt Nam không có quyền lợi gì ngoài quyền lợi của dân tộc, của nhân dân. Tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nêu ra không phải là điều Đảng Cộng sản Việt Nam mong muốn. Điều này đã được Đảng nghiêm khắc chỉ ra và đang nỗ lực sửa chữa.
Về mặt pháp lý, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 dựa trên nguyên tắc pháp quyền và nền dân chủ XHCN do nhân dân ta xây dựng. Điều 4, quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Điều 4, chỉ là sự phản ánh thực tiễn lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trên một nửa thế kỷ qua. Điều 4 trước hết là trọng trách của Đảng trong việc bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân ta; là tiền đề, điều kiện để Đảng làm tròn sứ mệnh lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Không nên nhầm lẫn trách nhiệm của đảng viên phải thực hiện các nghị quyết của đảng với các cơ quan Nhà nước thực hiện các quyết định của cơ quan, tổ chức, chính quyền cấp trên, do các đảng viên của đảng lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam không đưa ra các quyết định buộc Quốc hội và Chính phủ phải thực hiện. Nghĩa là, Đảng Cộng sản Việt Nam không đứng trên Nhà nước và pháp luật.
Vì những lý do khác nhau, những người lợi dụng cơ hội đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp năm 1992 hòng thực hiện một cuộc đảo chính mềm - thay đổi nội dung căn bản của Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là ảo tưởng.
Theo qdnd.com.vn

27 thg 2, 2013

Hiểu đúng về quyền tự do tôn giáo


Gần đây, trên mạng Internet xuất hiện nhiều bài viết cho rằng Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, kêu gọi các quốc gia can thiệp để Việt Nam có tự do tôn giáo. Họ cho rằng tự do tôn giáo là một quyền cơ bản của công dân theo Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền. Họ đòi tách các tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước. Vậy thực hư vấn đề này là như thế nào?
Thứ nhất, cần làm rõ hai vấn đề tín ngưỡng và tôn giáo
Tín ngưỡng là niềm tin vào một đấng siêu nhiên nào đó. Như vậy tín ngưỡng là vấn đề thuộc về tư tưởng
Có nhiều quan niệm khác nhau về tôn giáo. Tuy nhiên tất cả đều thống nhất cho rằng tôn giáo là một dạng tổ chức xã hội, có bộ máy tổ chức, có nhân sự.
Trong một xã hội phát triển thì tư tưởng được tự do, còn những tổ chức xã hội phải được quản lý theo pháp luật. Do đó, chỉ có tự do tín ngưỡng chứ không tồn tại thứ gọi là tự do tôn giáo.
Thứ hai, xem xét dưới góc độ Luật pháp quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới thấy rằng chỉ có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, một quyền về tư tưởng, thuộc về quyền cơ bản của công dân. Hơn nữa, pháp luật các nước đều quy định tổ chức tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước
Điều 18 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền chỉ rõ: “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng”. Như vậy, theo Luật pháp quốc tế quyền tự do tôn giáo của công dân được hiểu là quyền tự do về tư tưởng, bao gồm sự tự nguyện theo hay không theo tôn giáo và tự do bày tỏ đức tin (tự do thực hành lễ nghi tôn giáo). Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền cũng đã nêu: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra”. Như vậy, quyền tự do tôn giáo cũng bị hạn chế bởi pháp luật, nghĩa là mọi tổ chức tôn giáo đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước.
Luật về tách rời nhà thờ và Nhà nước của Cộng hòa Pháp quy định: “Cộng hòa Pháp bảo đảm tự do tín ngưỡng, Cộng hòa Pháp bảo đảm quyền tự do hành đạo với những hạn chế trước đây vì quyền lợi duy trì trật tự công cộng” (Điều 1). “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự giám sát của các cơ quan chính quyền”( điều 26). Như vậy, theo pháp luật của Cộng hòa Pháp thì công dân chỉ có quyền tự do tín ngưỡng và cho thấy sự quản lý nhà nước Pháp đối với tôn giáo.
Hiến pháp Đức năm 1949 tuyên bố quyền công dân về tự do tín ngưỡng, tự do lương tâm, tự do công khai hóa các quan điểm tôn giáo và quan điểm về xã hội, tự do thực hành các nghi lễ tôn giáo.  Như vậy, theo pháp luật của CHLB Đức thì công dân cũng chỉ có quyền tự do tín ngưỡng.
Luật IV năm 1990 của Hungari về tự do tín ngưỡng tôn giáo và nhà thờ ở Hungari quy định công dân có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo (Điều 1), quy định về cấp đăng kí hoạt động cho tổ chức tôn giáo (điều 9 đến điều 16)… Như vậy pháp luật Hungari chỉ công nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước
Qua vài ví dụ trên cho thấy thế giới thừa nhận quyền tự do tôn giáo là quyền bị giới hạn, chỉ có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, một thứ quyền thuộc về tư tưởng, tinh thần mới là tuyệt đối. Cũng không có tự do tôn giáo tuyệt đối, không thể tách tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước. Những kẻ trích dẫn luật này luật nọ để hô hào tự do tôn giáo cho Việt Nam từ đó đòi tách tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước là những kẻ bịp bợm, cố tình nhập nhằng giữa vấn đề tín ngưỡng (thuộc về tư tưởng) và vấn đề tôn giáo (tổ chức xã hội cụ thể) để đánh lừa người dân.
Lê Quang

26 thg 2, 2013

Sự mờ ám của Ủy ban bảo vệ ký giả quốc tế (tiếp)


Phần II: Những thông tin xuyên tạc, thiếu khách quan
CPJ đã “đánh lận con đen”, đồng nhất giữa blogger và các nhà báo chân chính. Theo quan điểm của CPJ, hễ ai cầm bút viết là nhà báo, là blogger! CPJ đã quên rằng bất kỳ nước nào trên thế giới, được coi là nhà báo phải có những tiêu chí nhất định, nhà báo hành nghề được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp thẻ hành nghề, còn blogger viết ý kiến cá nhân, họ không phải là nhà báo; trở thành nhà báo là sự nỗ lực không ngừng của những người cầm bút chứ không phải là những kẻ rỗi hơi, thiếu thông tin viết lung tung trên mạng được CPJ bảo vệ. Rõ ràng là CPJ đã vu khống trắng trợn tình hình báo chí ở Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam, có hơn 19 nghìn hội viên Hội Nhà báo, trong đó có gần 17 nghìn nhà báo đã được cấp thẻ hành nghề đang làm việc tại hàng trăm cơ quan báo chí (với rất nhiều loại hình khác nhau) từ trung ương tới địa phương. Ðó là những nhà báo được đào tạo cơ bản, được xã hội công nhận, hoạt động dựa trên các quy định của Luật Báo chí, có hội nghề nghiệp riêng và được pháp luật bảo vệ khi hành nghề. Vì thế khi tác nghiệp, họ không gặp “nguy hiểm” từ xã hội như đánh giá tùy tiện của CPJ, nên không thể đánh đồng số đông các nhà báo với một số cá nhân có hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” trên internet. Bằng việc lảng tránh vấn đề trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhà báo, cố tình gắn cho một số blogger – người viết blog, danh hiệu là “nhà báo tự do”, “cây bút tự do”, CPJ tưởng rằng sẽ tạo ra sự mập mờ trong dư luận để vu cáo Việt Nam; nhưng rốt cuộc, hành vi này lại làm lộ rõ bản chất thực sự của CPJ là gì. Họ không cần phân biệt ai là nhà báo, ai không phải là nhà báo. Họ chỉ cần số liệu và một vài tên tuổi, lấy cớ để vu khống mà thôi. Vậy thử hỏi họ đang bảo vệ ai, chẳng lẽ họ không có tự trọng để thi thoảng lại xưng xưng bảo vệ những người vi phạm luật pháp?
Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động của xã hội được quản lý và điều chỉnh theo luật pháp. Nhà nước Việt Nam là nhà nước của nhân dân, không phải của riêng cá nhân nào mà lại nói “thích” hay “không thích”. Nếu cứ hành xử một cách tùy tiện, thì còn gì là luật pháp nữa. ở Việt Nam, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, nếu vi phạm pháp luật đều bị xử phạt theo quy định của luật pháp; pháp luật phải được thượng tôn, không ai đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật. Trên thực tế, ở Việt Nam không có phóng viên hay nhà báo nào bị bỏ tù mà chỉ có người vi phạm pháp luật bị xử phạt theo quy định của luật pháp. Một số blogger bị phạt tù vì họ vi phạm pháp luật Việt Nam. Khi tòa án xét xử, họ đều có luật sư bào chữa nhưng với những chứng cứ phạm tội rõ ràng, họ phải cúi đầu nhận tội. Luật sư bào chữa của họ cũng phải thừa nhận phiên tòa xét xử đúng người đúng tội. Việt Nam không thể bỏ tù bất kỳ ai một cách vô cớ và không bỏ tù ai chỉ vì họ “nói lên những gì nhà nước không thích”, như CPJ nhận xét.


XEM PHIM TÀI LIỆU “CUỘC CHIẾN CUỐI CÙNG” MÀ SUY NGẪM VỀ NHỮNG CON NGƯỜI “PHỦ NHẬN LỊCH SỬ DÂN TỘC”



Nước Việt Nam có mấy ngàn năm lịch sử. Trong mấy ngàn năm ấy đất nước ta không ngừng tiếng quân reo, ngựa hí, tiếng trống trận xung phong, tiếng hô sang sảng trên pháp trường tiếng gầm rú của xe tăng, đại bác khi nghiền thây quân cướp nước, tiếng máy bay, tên lửa xé tầng mây trong những năm dài đánh Mỹ nóng bỏng đạn bom, sôi sục quân thù...Bằng tinh thần đoàn kết và ý chí quật cường, với những chiến thắng hiển hách trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh cho thế giới thấy được Việt Nam là một dân tộc anh hùng....
Tôi nhớ rằng, có người nước ngoài khi được hỏi về Việt Nam đã từng nói: tôi chỉ ước rằng, một ngày nào đó khi thức dậy thì, tôi được trở thành người Việt Nam. Dù chiến tranh đã qua đi, nhưng những dấu tích đau thương, khắc nghiệt của chiến tranh thì vẫn còn in đậm trong từng tấc đất, từng hàng cây, từng gương mặt và tâm hồn con người Việt Nam. Đó là hình ảnh về những hố bom, hình ảnh về của những nạn nhân chất độc màu da cam, những chiến sỹ từ chiến trường trở về bị ảnh hưởng của di chứng chiến tranh vẫn hô xung phong trong cả giấc ngủ....hay đó là tiếng hô còn vang mãi đến mai sau: "nhằm thẳng quân thù mà bắn". Chiến thắng trước thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là chiến thắng của đường lối cách mạng đúng đắn mà Đảng ta đã lựa chọn và lãnh đạo đã được thể nghiệm trong cách mạng dân tộc, thế giới phải thừa nhận...
Ấy vậy mà, có những kẻ mặc dù là người Việt Nam, mang trong mình dòng máu Việt Nam, được thừa hưởng cuộc sống độc lập, tự do đã xây dựng bằng xương và máu của bao thế hệ cha anh lại phủ nhận điều đó, đi ngược lại lịch sử. Đó là Lê Quốc Quân, Nguyễn Khắc Toàn...Cho nên, khi xem bộ phim tài liệu “ cuộc chiến cuối cùng”  nói về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam mà liên tưởng về những con người nàylại càng thấy rõ bản chất xấu xa của họ. Trong khi các thế hệ cha anh sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, hy sinh tình cảm riêng và thậm chí cả tính mạng của mình để bảo vệ lợi ích dân tộc thì những kẻ như họ lại vì những đồng “đô la lạnh” vì lợi ích cá nhân mà bán rẻ Tổ quốc. Những việc làm của họ chính là đang “phủ nhận lịch sử dân tộc”  và chẳng khác nào đang phản bội lại chính lợi ích của cha ông mình, bán rẻ linh hồn vì “những thứ tầm thường”.
Nếu viết lời nhận xét về bản chất của những con người này thì có lẽ lời nhận xét xác đáng phải là: Đó là những kẻ “hạn chế về văn hoá” và nói dối lịch sử, là những kẻ "không ra gì". Bởi có" không ra gì" thì mới là những kẻ "nói dối chân lý không biết ngượng" và có những hành động phản bội lại lợi ích của chính dân tộc mình.
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, con người Việt Nam thông minh, đoàn kết, sáng tạo, cần cù. Đó như là chân lý mà lịch sử dân tộc đã chứng minh và thế giới phải thừa nhận. Những kẻ như Lê Quốc Quân, Nguyễn Khắc Toàn… không thể ảo tưởng về việc xuyên tạc hay đi ngược lại con đường mà dân tộc Việt Nam đang đi; cũng đừng vì đồng “đô la lạnh" mà bán mất linh hồn mình.
                                                                            Người Thủ Thư