Hiển thị các bài đăng có nhãn TÔI YÊU VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÔI YÊU VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng

13 thg 4, 2013

Bổn cũ soạn lại!


Lâu nay, các “nhà dân chủ, nhân quyền” trên thế giới đều cho mình một quyền tối cao là can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Dù đó là việc của anh nông dân, kỹ sư, luật sư cho đến đảng viên, họ đều cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền!  Sau phiên tòa xét xử Đoàn Văn Vươn cùng 5 bị cáo khác phạm tội "Giết người, chống người thi hành công vụ", hàng loạt tổ chức quốc tế đều lên tiếng can thiệp. Phil Robertson -  Phó giám đốc phụ trách khu vực châu Á của Tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế (Human Rights Watch) phát biểu rằng: “Vụ án Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng (Hải Phòng) là tín hiệu cảnh báo cho nhà cầm quyền Hà Nội về hậu quả của tình trạng thiếu nhân quyền…”.Đúng là ông Phill Robertson và các “nhà dân chủ” khác không hiểu về bản chất của nhân quyền thì phải.
Nhân quyền (hay quyền con người) là một giá trị của toàn nhân loại. Nhân quyền có những tiêu chí được cả thế giới thừa nhận và có tính đặc thù của mỗi quốc gia. Nhân quyền là quyền có giới hạn, không gì là tự do tuyệt đối (trước đó, HRW đã yêu cầu “tự do báo chí tuyệt đối”, văn nghệ tuyệt đối...không lẽ “Thuyết tương đối” của Albert Einstein sai chăng?). Xin lưu ý, khi xét xử Đinh Đăng Định, ông Phil Robertson cũng đã có những lời lẽ như thế. Quyền tự do dân chủ của công dân phải nằm trong khuôn khổ của luật pháp. Hành động của ông Phil Robertson là vô lý, áp đặt không căn cứ. Không thể nhân danh nhân quyền can thiệp thô bạo, vô lý vào công việc nội bộ của nước khác. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam luôn bảo vệ và phát huy các quyền của công dân; tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khích lệ mọi người tích cực tham gia bảo vệ các quyền đó. Đồng thời, pháp luật Việt Nam cũng kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm quyền con người hoặc lợi dụng quyền con người để hành động trái pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Trong sự việc ở Tiên Lãng, Đoàn Văn Vươn và các bị cáo đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy các bị cáo đã quyết tâm thực hiện đến cùng tội phạm... Do đó, cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật cũng như để răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Thực tế tại phiên tòa càng cho thấy rõ những gì ông Phil Robertson nói là không phù hợp với thực tế, thể hiện một thái độ thiếu thiện chí với Việt Nam.



22 thg 3, 2013

Vai trò của Đảng đối với nhà nước và xã hội


Thời gian qua, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1992, đưa bản dự thảo Hiến pháp ra lấy ý kiến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, trên một số trang mạng Internet các cá nhân, tổ chức phản động tăng cường hoạt động tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội; đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng.
         Các đối tượng sử dụng nhiều lập luận với những thủ đoạn khác nhau để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng tựu chung lại chúng cho rằng độc đảng là độc quyền, là không có dân chủ; độc đảng sẽ không khắc phục được quan liêu, tham nhũng, tha hóa và như vậy đất nước sẽ không phát triển được. Rằng xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp đang là nguyện vọng của người dân Việt Nam, từ đó chúng hô hào mọi người ký tên này nọ, tranh đấu này kia như những “con rối”.
         Đây thực sự là những luận điệu thể hiện ý thức chống đối sâu sắc trên một nền tư duy chính trị non nớt, vô căn cứ khoa học và thực tiễn.
         Trước hết phải khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng là một tất yếu lịch sử, đã và hiện nay vẫn đang được đại đa số người dân Việt Nam ủng hộ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được thực tiễn lịch sử chứng minh: Từ khi thành lập năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành hạt nhân lãnh đạo, là lực lượng đại diện, đại biểu trung thành lợi ích của nhân dân Việt Nam, đã đoàn kết toàn dân tộc ta đấu tranh giành được những thắng lợi vẻ vang: Đánh bại hai tên thực dân, đế quốc sừng sỏ bậc nhất thế giới là Pháp và Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc. Cùng với tiến trình lịch sử vẻ vang của dân tộc ta, Đảng Cộng sản với bản chất cách mạng chân chính đã dần tạo được niềm tin và được quần chúng nhân dân suy tôn là lực lượng lãnh đạo, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua mọi khó khăn, đưa đất nước không ngừng phát triển. Những thành tựu đạt được của gần 30 năm đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội,  an ninh - quốc phòng đã minh chứng năng lực lãnh đạo của Đảng, xứng đáng với niềm tin của quần chúng.
Tuy còn một số tồn tại, yếu kém trong lãnh đạo quản lý kinh tế, xã hội; trong Đảng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện thoái hóa, biến chất, phai nhạt lý tưởng dẫn đến có hiện tượng tiêu cực về đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí gây ảnh hưởng đến uy tín của Đảng đối với nhân dân; nhưng điều quan trọng là Đảng ta đã nhận rõ và đang tăng cường các biện pháp quyết liệt (Nhất là thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW4 Khóa XI) xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, để Đảng luôn giữ được niềm tin yêu và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhân dân giao phó.
Và hơn hết, trái ngược hẳn với những luận điệu tuyên truyền của các đối tượng phản động thù địch, hiện nay nhân dân Việt Nam vẫn đặt niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, với một quá khứ lịch sử vẻ vang cùng dân tộc, với bản chất cách mạng sẽ thực hiện thành công công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng, khắc phục vấn đề còn tồn tại, hạn chế, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo đất nước vượt qua những khó khăn thách thức, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Những ai không cảm nhận được niềm tin đó của nhân dân, thì hoặc là kẻ sa rời thực tiễn, hoặc là kẻ thâm thù với Đảng, với cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, quan điểm cho rằng độc Đảng lãnh đạo là độc quyền, là mất dân chủ, là dẫn đến quan liêu, tham nhũng là không có cơ sở lý luận và thực tiễn.  Về lý luận, độc quyền tức là quyền lực Nhà nước nằm trong tay một người hoặc một nhóm người nào đó và chúng sử dụng quyền lực này để mưu lợi cho bản thân. Như vậy Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng do sự tín nhiệm của nhân dân mà được nhân dân suy tôn giữ vai trò đại diện gánh sứ mệnh lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhằm bảo vệ lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, do đó, nói Đảng Cộng sản Việt Nam là độc quyền, mất dân chủ trên phương diện này là hoàn toàn sai lầm.
Về thực tiễn cho thấy, ngay ở các nước tư bản với chế độ đa nguyên, đa đảng lại thường xuyên xảy ra hiện tượng độc quyền, quyền lực Nhà nước do một người hoặc một nhóm người năm giữ để phục vụ lợi ích cho nhóm thiểu số đó, điển hình như các chế độ độc tài gia đình trị ở các nước Bắc Phi và Trung Đông, mà trong thời gian gầy đây chúng ta biết đến với các cuộc nổi dậy của người dân lật đổ các chế độ độc tài này ở Ly Bi, Ai Cập, Tuynidi….. Hay lùi về lịch sử đó là chế độ độc tài Duce Benito Mussolini, từ 1925 tới 1943 tại Ý; chế độ độc tài Ferdinand Marcos ở Philipin, từ 1972 đến 1986; chế độ độc tài Pinochet ở Chi Lê, từ năm 1973 tới 1990; Chế độ độc tài Park Chung Hee, từ năm 1961 – 1979, tại Hàn Quốc…. đã gây ra bao tội ác đối với nhân dân của các nước này. Do vậy đánh đồng độc Đảng lãnh đạo là độc quyền, đa Đảng là tự do, dân chủ như chúng thấy ở trên là áp đặt không có căn cứ thực tiễn.
Như vậy, không cần phải đưa ra kết luận thì mọi người đều có thể tự mình đánh giá được những luận điệu trên đúng hay sai? cũng như bản chất thực sự của những kẻ đưa ra những luận điệu xuyên tạc, áp đặt, vu khống đó. Liệu chúng có phải vì sự phát triển của dân tộc Việt Nam như chúng đang tự tung hô với nhau hay là vì động cơ thấp hèn, bởi sự hận thù sâu sắc với cách mạng, tâm lý của những kẻ bại trận, một thời ôm chân đế quốc phản bội lại tổ quốc Việt Nam này?.
Hơn bao giờ hết, với lần sửa đổi Hiến pháp lần này, khi các thế lực thù địch, phản động với cách mạng đang ra sức tuyên truyền đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, chúng ta không được mơ hồ, mất cảnh giác, phải tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đó cũng chính là ý chí và nguyện vọng của đại bộ phận nhân dân Việt Nam
ĐTC - YN

Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng!


Có thể nói trên thế giới, mỗi quốc gia đều có một thể chế chính trị - xã hội khác nhau nên có lúc đã xảy ra mâu thuẫn giữa các khuynh hướng và định hướng phát triển xã hội. Những nước có bản chất xã hội giống nhau vẫn có những nét đặc thù khác nhau: Chủ nghĩa tư bản Mỹ khác với chủ nghĩa tư bản ở Pháp và cũng khác ở Nhật. Các nước xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc hay Việt Nam cũng có những nét đặc thù riêng. Cho nên ngày nay điều được các nước quan tâm và đặt lên hàng đầu là lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc nên chế độ chính trị của một nước sẽ do nhân dân nước đó chọn ra để cống hiến cho người dân và đất nước. Ở Viêt Nam cũng vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường Xã hội Chủ nghĩa đã được lịch sử và nhân dân Việt Nam lựa chọn; đại diện và vì lợi ích của nhân dân và dân tộc Việt Nam.
Thực tế lịch sử đã chứng minh khi đất nước phải trải qua những giai đoạn bị sự đô hộ, xâm lăng của thực dân, đế quốc thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã xuất hiện lãnh đạo nhân dân đứng lên dành lại độc lập; Đảng lấy nền tảng cơ sở tư tưởng là Chủ nghĩa Mac Lênnin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đại diện cho giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức, Đảng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng, giữ vững chính quyền mới. Một Nhà nước khác về bản chất so với Nhà nước dưới các chế độ khác, là Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính nhân dân là chủ nhân của Nhà nước, mọi quyền lực của Nhà nước đều là quyền lực của nhân dân, thuộc về nhân dân.
Thời kỳ đất nước ta trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, đế quốc Mỹ rồi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây – Nam, biên giới phía Bắc là một thời kỳ lịch sử đặc biệt: “Đảng ta phải áp dụng những phương thức lãnh đạo đặc biệt, với các biện pháp chính trị cứng rắn, quyết đoán. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện, nhằm thống nhất cao độ sự lãnh đạo chính trị và thực hành chính trị, buộc toàn Đảng, toàn dân phải hy sinh một phần các quyền dân chủ cho mục tiêu trước mắt lớn hơn là độc lập, thống nhất nước nhà. Đặc điểm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở sự hòa quyện, không phân biệt rõ chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước và chức năng Nhà nước quản lý xã hội, Đảng với Nhà nước dường như là một. Đảng đóng vai trò tổng chỉ huy và tổ chức toàn bộ công cuộc kháng chiến và giải phóng đất nước. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà thường rất cụ thể, bao quát các chức năng của Nhà nước”.
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 thì cơ chế là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, theo đó ta hiểu Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không điều hành xã hội thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nói rõ phương thức lãnh đạo của Đảng: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”.
Đảng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong đó, xây dựng một đất nước Việt Nam với chủ trương giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quá trình hoạch định đường lối cách mạng, Đảng luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, không giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội. Qua mỗi kỳ Đại hội, Đảng đều có những chủ chương phù hợp với từng thời kỳ cách mạng của đất nước, thẳng thắn nhận những khuyết điểm, những hạn chế còn tồn tại và đã được Đảng nghiêm túc kiểm điểm, khắc phục thông qua các nghị quyết. Đứng trước những khó khăn trong tình hình mới, Đảng cần có những bổ sung, sửa đổi sao cho phù hợp để tiếp tục phát triển đất nước, điều đó là trách nhiệm của Đảng, của mỗi Đảng viên và cũng là trách nhiệm của toàn dân tộc. Điều đó càng hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay khi các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam; đặc biệt là một số người tự nhận là trí thức, họ bôi nhọ, nói xấu, phủ nhận vai trò của Đảng, đưa ra những luận điểm hết sức phản động mà tự xưng là vì tự do, vì dân chủ, ủng hộ thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi xóa bỏ nội dung Điều 4 Hiến pháp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Tôi rất đồng tình với ý kiến rằng: “Bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc ở chỗ, Ðảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì”. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử va thực tiễn chứng minh; đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công con đường cách mạng Việt Nam, phát triển đất nước, cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh.  
  
                                                                              Yêu nước

6 thg 3, 2013

Không thể áp đặt

Hiện nay, trong khi nhân dân ta đang đóng góp cho Dự thảo Hiến pháp năm 1992, coi đây là một dịp để củng cố và phát triển nền dân chủ XHCN ở Việt Nam thì trên một số trang mạng trong và ngoài nước, một số người lại coi đó là cơ hội để áp đặt vào xã hội ta những quan điểm tư sản về dân chủ, nhân quyền.
Theo họ thì nhất thiết phải "loại bỏ Điều 4 (Hiến pháp năm 1992) khẳng định vai trò lãnh đạo Nhà nước, xã hội của Đảng Cộng sản Việt  Nam", để "chuyển đổi một Nhà nước “độc đảng” sang Nhà nước “đa đảng” tại Việt Nam...".  
Những lập luận của họ xung quanh vấn đề này không có gì mới. Cái mới ở đây chính là người ta đã chọn thời điểm toàn dân đang đóng góp vào Dự thảo Hiến pháp năm 1992 để mở một "chiến dịch" rầm rộ trên các trang mạng điện tử vừa tuyên truyền xuyên tạc, vừa phủ nhận lịch sử Đảng Cộng sản và lịch sử cách mạng Việt Nam, rồi nói như "đinh đóng cột" rằng, "sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam là điều không thể tránh khỏi”. Những người tỉnh táo, có cách nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, công bằng thì lập luận, chứng cứ của họ không có tính thuyết phục.
Về nội dung và quy trình xây dựng Hiến pháp, hiện nay trên thế giới đang tồn tại nhiều hình thức Nhà nước với nhiều chế độ chính trị (cộng hòa dân chủ nhân dân; xã hội chủ nghĩa; quân chủ nghị viện; cộng hòa đại nghị; cộng hòa lưỡng thể; tôn giáo...) vì thế mà nội dung và quy trình xây dựng hiến pháp cũng khác nhau. Nói cách khác không có nội dung và quy trình xây dựng Hiến pháp "mẫu" chuẩn cho các dân tộc.
Xây dựng Hiến pháp là công việc, là chủ quyền của mỗi quốc gia dân tộc. Học hỏi các quốc gia, dân tộc khác là đương nhiên, nhưng không thể sao chép một cách thuần túy hiến pháp của Nhà nước thuộc chế độ chính trị này sang Nnhà nước thuộc chế độ chính trị khác. Kể cả những Nhà nước có chung chế độ chính trị cũng không thể "rập khuôn" hiến pháp của nhau được, vì lịch sử, truyền thống văn hóa, trình độ dân trí, đời sống kinh tế-xã hội mỗi nước một khác.
Còn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được quy định trong Điều 4 Hiến pháp năm 1992 (văn bản cũ và sửa đổi) hoàn toàn có căn cứ lịch sử, chính trị và pháp lý. Về mặt lịch sử, với 3 sự kiện trọng đại: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành độc lập dân tộc; kháng chiến chống thực dân cũ, thực dân mới thắng lợi và khởi xướng công cuộc đổi mới đều do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Chế độ đa đảng bắt nguồn từ những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nói đơn giản, chế độ đó là kết quả của sự chia sẻ quyền lực giữa các lực lượng chính trị tham gia cách mạng. Cũng có thể nói đó là một cách phân bổ quyền lực nhằm tránh khủng hoảng chính trị, tái diễn xung đột bạo lực. Như vậy là chế độ đa đảng chỉ là sự phản ánh tương quan lực lượng chính trị, chứ không phải là "sự lựa chọn khôn ngoan của lực lượng chính trị chiến thắng" như họ đang rêu rao.
Hơn một nửa thế kỷ qua, cho dù cũng còn những vấp váp, bất cập, thậm chí sai lầm, khuyết điểm, nhưng con đường cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập là hoàn toàn đúng đắn. Đảng Cộng sản Việt Nam không có quyền lợi gì ngoài quyền lợi của dân tộc, của nhân dân. Tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nêu ra không phải là điều Đảng Cộng sản Việt Nam mong muốn. Điều này đã được Đảng nghiêm khắc chỉ ra và đang nỗ lực sửa chữa.
Về mặt pháp lý, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 dựa trên nguyên tắc pháp quyền và nền dân chủ XHCN do nhân dân ta xây dựng. Điều 4, quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Điều 4, chỉ là sự phản ánh thực tiễn lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam trên một nửa thế kỷ qua. Điều 4 trước hết là trọng trách của Đảng trong việc bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân ta; là tiền đề, điều kiện để Đảng làm tròn sứ mệnh lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Không nên nhầm lẫn trách nhiệm của đảng viên phải thực hiện các nghị quyết của đảng với các cơ quan Nhà nước thực hiện các quyết định của cơ quan, tổ chức, chính quyền cấp trên, do các đảng viên của đảng lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam không đưa ra các quyết định buộc Quốc hội và Chính phủ phải thực hiện. Nghĩa là, Đảng Cộng sản Việt Nam không đứng trên Nhà nước và pháp luật.
Vì những lý do khác nhau, những người lợi dụng cơ hội đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp năm 1992 hòng thực hiện một cuộc đảo chính mềm - thay đổi nội dung căn bản của Hiến pháp năm 1992, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là ảo tưởng.
Theo qdnd.com.vn

27 thg 2, 2013

Thế giới mạng và sinh mạng thứ hai


Internet có thể tạo ra sức ảnh hưởng rất lớn cho một con người "ảo", cho dù ngoài đời, con người thực không có sức ảnh hưởng cỡ như vậy.
William Shakespeare từng nói "Chúa đã cho ta một khuôn mặt, ta hãy tạo nên một khuôn mặt cho chính mình".
Ngày nay, có thể nói mạng internet đã tạo cơ hội để con người có nhiều hơn một khuôn mặt. Chưa có thời kỳ nào khuôn mặt con người lại đa dạng đến thế. Còn hơn cả một khuôn mặt, thế giới ảo giúp con người có một cuộc sống khác, như thể một sinh mạng thứ hai. Ở đó, họ dễ dàng hành xử như một người vô danh, hoặc bỗng nhiên nhờ vào thế giới ảo mà trở thành nổi tiếng. Internet có thể tạo ra sức ảnh hưởng rất lớn cho một con người "ảo", cho dù ngoài đời, con người thực không có sức ảnh hưởng cỡ như vậy, nếu chỉ căn cứ vào nhận thức, học vấn, địa vị xã hội, thậm chí là đức độ của bản thân.
Khuôn mặt ảo, được tạo ra đa phần là khá nhanh chóng và dễ dàng, thông thường là với "chi phí" rẻ hơn phẫu thuật thẩm mỹ, cách cải thiện ngoại hình đang rất thịnh hành ở Hàn Quốc. Cũng vì chi phí rẻ và khả năng tạo ra quyền lực ảo lớn lao bằng những cách khác nhau, người ta dần dần đến với những khuôn mặt ảo với một nhu cầu thực - trở thành một con người khác trên mạng, một sinh mạng thứ hai. Điều đáng lưu ý là sinh mạng ấy nhiều khi được nuôi dưỡng với những tính cách có phần khác biệt với sinh mạng gốc, ít nhất là ở vẻ bề ngoài.
Game và nhân vật ảo
Game (trò chơi điện tử) ngày nay đã trở thành một thành phần không thể thiếu của thế giới giải trí ở Việt Nam. Không ngạc nhiên, khi người Việt ngày càng ít vận động trong sự bùng nổ của phương tiện giao thông cự ly ngắn tiêu biểu là xe máy, cùng quá trình đô thị hóa vũ bão làm tác nhân cho sự thu hẹp không gian công cộng. Ít trò chơi và không gian thể dục thể thao, người ta tìm đến Game để thỏa mãn nhu cầu vận động cả thể chất lẫn tư duy. Từ những trò chơi "đồ cổ" như Mario cứu công chúa, game bày trận kiểu "Đế chế", tới đỉnh cao thể loại nhập vai như Võ Lâm Truyền kỳ, game cung cấp một ảo giác cho bất kỳ ai muốn trở thành "người hùng" trong chốt lát, hoặc thậm chí ngày qua ngày.
Trong game, vị nguyên soái chỉ huy cả đạo quân vây hãm thành Rome có khi ngoài đời chỉ là một cậu bé gày gò, cận thị nặng, mặt xanh vì thiếu ăn thiếu ngủ. Một anh chàng thô kệch nào đó có thể "nhập vai" một đội tuyển toàn nghệ sỹ sân cỏ như Brazil.
Với sự cực thịnh của game online, các game thủ quyết chiến với nhau qua mạng internet, nuôi quân, luyện công, mua bán vũ khí, bảo bối, giúp cho nhân vật mình thủ vai có những quyền năng mà chính chủ nhân trong cuộc sống thực không thể chiếm hữu.
Khi những trận chiến này diễn ra, có thể quan sát một hiện tượng phổ biến, đó là ngôn ngữ đường phố, "nặng đô" hơn, là ngôn ngữ thô tục được phát ra tràn lan cả trong và ngoài màn hình.
Blog và Vlog
Quan sát thêm, ta cũng thấy ngôn ngữ thô tục, một hình thức thể hiện bản năng, còn phổ biến cả trong Blog và dạng nhật ký cá nhân đời mới là Vlog (dạng blog bằng video).
Gần đây, có chuyện một vị giáo sư nêu lên một khuyến nghị về việc thay đổi lịch ăn Tết khoa học hơn, sao cho hài hòa tập tục cổ truyền với nhịp sống và làm việc của thế giới, ngõ hầu cải thiện năng suất lao động của đất nước. Hay dở ra sao chưa rõ, nhưng thế giới ảo đã nóng bỏng câu chuyện này từ những phản biện trên blog cá nhân cho tới các diễn đàn và mạng xã hội. Thậm chí có du học sinh nọ còn dấy lên làn sóng nhạo báng nhắm vào đề xuất và người đề xuất đó với clip vlog riêng của mình, với một phong cách được những người đua nhau còm-men ủng hộ coi là tự nhiên, tinh nghịch và cách đối thoại ngang vai bốp chát với một nhà giáo dục trọng tuổi có nhiều cống hiến.
Cứ như thể, ý kiến một blogger, hoặc vlogger có ít nhiều ảnh hưởng về một sự việc nào đó, tạo ra cơ hội nửa hư nửa thực biến một người không có thành tựu hay công trình trở nên có "vai vế", dù rằng mới chỉ ở trên thế giới ảo.
"Phây" (facebook) và mạng xã hội
"Phây" đã trở thành mạng xã hội tiêu biểu ở Việt Nam, tới mức việc không có Phây đối với nhiều người đã được xem như một điều bất thường. Trên một trang nửa nhật ký nửa kết nối xã hội như "Phây", không thiếu các thuật ngữ mạng như f**k, vkl, cmn...Những từ ngữ với nội hàm dù nhằm vào ai, cũng khó thấy thanh tâm, trừ phi phải là người trơ lì, thích nghe, thích nhìn thấy những lời lẽ thô tục.
Không phải tự nhiên mà Nhà giáo Văn Như Cương cách tân câu nói nổi tiếng của thi hào Goethe đi một chút: "Nhìn vào Facebook của bạn, tôi có thể biết bạn là người như thế nào". Cũng không phải tự nhiên mà theo nhiều hãng chuyên săn đầu người, "Phây" là một trong những nguồn thông tin tham khảo quý báu để họ tìm hiểu khi tuyển dụng nhân sự.
Hai sinh mạng, một con người
Trong "Câu chuyện kỳ lạ về bác sỹ Jekyll và ông Hyde", độc giả có thể thấy chính mình trong nhân vật của câu chuyện, tuy một mà hai. Ban ngày, nhân vật đó có thể là người được trọng vọng như bác sỹ Jekyll. Ban đêm, đại diện cho sự xấu xa trong bản tính của con người, trong hình hài ông Hyde, được dịp trỗi dậy tung hoành. Những thể nghiệm bản ngã khác nhau trong thời đại internet, dường như phản ánh câu chuyện đã trở nên cổ điển về Jekyll và Hyde. Chỉ khác rằng, nếu ngày xưa gã Hyde kia chỉ dám len lén ra ngoài vào ban đêm, thì ngày nay, gã đã có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi đâu, bất kể thời gian, với thân phận được giấu kín trên các trang mạng. Ở đó, một người đàn ông đạo mạo có thể là một gã "chăn rau sạch". Một hot girl xinh xẻo mặt búng ra sữa rất có thể đang thản nhiên "phây" chuyện mình chửi bới người thân hay thày cô giáo.
Xét cho cùng, con người vẫn là chính họ, dù những khuôn mặt ảo được dựng lên có biểu hiện khác nhau trên thế giới mạng. Có điều, thế giới ấy mở ra khả năng kích thích những bản ngã đối lập tiến tới những đỉnh cực đoan mà không phải ai cũng có khả năng chế ngự chúng. Khi sống lâu trong một môi trường đầy nhu cầu và bản năng, cho phép mình làm những điều mình không dám nói và làm ngoài đời thực, ai biết được một ngày kia "sinh mạng thứ hai" sẽ nổi lên chiếm phần lớn nhất trong con người của sinh mạng thứ nhất.
Theo TBKTSG

25 thg 2, 2013

Báo cáo nhân quyền Việt Nam của HRW – một sự vu khống trắng trợn


Ngày 20 tháng 2 năm 2013 HRW công bố bản cáo nhân quyền thế giới hằng năm, đánh giá tình hình nhân quyền của trên 90 quốc gia lần thứ 23, bản báo cáo dài 680 trang, trong đó đáng chú ý đoạn nói về tình  hình nhân quyền Việt Nam gồm 7 trang. Có thể khẳng định toàn bộ nội dung trong bản báo cáo này đã vu khống một cách trắng trợn thực tế tình hình nhân quyền tại Việt Nam, khi nhận định rằng Chính phủ Việt Nam đàn áp có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội, nhóm họp; quyền tự do tôn giáo.
Nội dung mà bản báo cáo này phản ánh thiếu khách quan, vu khống một cách trắng trợn về tình hình nhân quyền của Việt Nam thể hiện sự yếu kém về chuyên môn chuyên sâu, phương pháp nghiên cứu, thẩm định thông tin của những nhân viên của HRW như một số nước, tổ chức quốc tế đã lên án. Họ thực sự chẳng hiểu gì về nhân quyền, và luật pháp quốc tế về vấn đề nhân quyền.
Xin thưa HRW rằng, ở đâu cũng vậy không bao giời có “quyền và tự do tuyệt đối”. Ngay trong bản tuyên ngôn thế giới về nhân quyền của liên hợp quốc tại Khoản 2 Điều 29 cũng chỉ rõ “Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi xã hội chung trong một xã hội dân chủ.”  Điều đó có nghĩa là, khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình phải nằm trong giới hạn nhất định đảm bảo không làm ảnh hưởng hoặc xâm phạm đến quyền và tự do của người khác, cũng như lợi ích chung của xã hội. Và ở mỗi nước để đảm bảo mọi người đều được hưởng thụ các quyền và tự do của mình không bị người khác xâm phạm, Nhà nước đề ra các văn bản quy phạm pháp luật quy định những việc mọi người được và không được làm, buộc mọi người trong xã hội mỗi nước phải sống trên cơ sở pháp luật, tuân thủ pháp luật của nước đó; đồng thời có chế tài để xử lý những người có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật. Ở nước nào trên thế giới cũng như vậy.
Về quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam, nói như HRW, chắc họ hiểu tự do ngôn luận nghĩa là mọi người được nói lên mọi suy nghĩ của mình, điều đó thật là thiếu hiểu biết, không muốn nói đó là sự ngu rốt, bởi giả sử một người thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình theo kiểu anh thích nói gì thì nói, mà những lời nói của người đó lại có nội dung xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích cá nhân và tập thể; điều này là không thể chấp nhận được trên cả phương diện thực tế và luật pháp. Do đó, không bao giờ có tự do tuyệt đối, mọi quyền và tự do của một người phải trong khuôn khổ cho phép được pháp luật của mỗi quốc gia quy định để đảm bảo cho quyền và tự do của người khác cũng được thực hiện.
Và theo lô gic tất yếu đó, Việt Nam quy định nghiêm cấm mọi người tuyên truyền phổ biến các tài liệu chống Đảng, Nhà nước, đe dọa an ninh quốc gia, tiết lộ bí mật nhà nước, cũng như thực hiện các biện pháp ngăn chặn truy cập đến các trang web đăng tải bài viết chống Đảng, Nhà nước, là việc làm bình thường, để kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận xâm phạm, gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Không chỉ Việt Nam mà Mỹ hay bất cứ nước nào trên thế giới cũng đều  có những quy định như vậy, liệu chính phủ Mỹ có để yên cho những người tuyên truyền biểu tình bạo loạn, đòi lật đổ chính phủ tư sản Mỹ?...
Chúng ta nhớ lại phong trào “chiếm lấy phố Wall” ở Mỹ, những người tuần hành biểu tình nhằm lên án những ông chủ tài chính giàu kếch xù ở Mỹ – được coi là thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và nạn thấy nghiệp trầm trọng, yêu cầu các phải có biện pháp hỗ trợ, giải quyết khó khăn cho những người lao động thất nghiệp. Nhưng chính phủ Mỹ đã sử dụng cảnh sát với công cụ hỗ trợ để đàn áp, bắt bớ những người tham gia biểu tình; đáng chú ý hành động đó để bảo vệ cho những ông chủ tài chính – ngân hàng, lực lượng chiếm số ít trong xã hội, vậy đó có phải là một sự tôn trọng nhân quyền và phải chăng nhân quyền ở Mỹ là nhân quyền cho thiểu số; đáng chú ý là sao không thấy HRW đánh giá về những vấn đề nhân quyền Mỹ, ở ngay đất nước mà họ đặt trụ sở của tổ chức? chỉ cần nhìn vào một chi tiết nhỏ đó có thể thấy bản báo cáo của HRW có khách quan hay không?
Về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam, HRW cho rằng “Chính quyền hạn chế tự do tôn giáo bằng các quy định pháp luật, quy định đăng ký hoạt động…”. Như đã phân tích ở trên thì mỗi cá nhân, tổ chức ở nước nào cũng phải hoạt động trong khuôn khổ luật pháp của nước đó; hoạt động tín ngưỡng tôn giáo cũng vậy. Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, để đảm bảo hài hòa lợi ích trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, tránh không để xảy ra xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, ngăn chặn hoạt động lợi dụng quyền tự do tôn giáo thực hiện các hoạt động ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn xã hội thì tất yếu Nhà nước phải thực hiện quản lý các hoạt động tôn giáo bằng các quy định của pháp luật, đó là điều tất yếu không chỉ ở Việt Nam, mà ở mọi quốc gia. HRW có biết rằng nếu không có quy định của pháp luật trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, thì giả sử một nhóm tín đồ Tin Lành tập hợp đến Chùa để nhóm họp thực hiện lễ nghi thì những người theo đạo phật có chấp nhận được không?, tất yếu sẽ dẫn đến xung đột tôn giáo.
Chúng ta cùng liên tưởng đến hành động bắt, tù đày, tiêu diệt mà Mỹ và một số nước áp dụng với những phần tử khủng bố theo đạo Hồi mà được gọi với cái tên “phần tử khủng bố Hồi giáo cực đoan”, đó có phải là một sự vi phạm nhân quyền của Mỹ với các tín đồ Hồi giáo này? Mọi người đều khẳng định là không. Vậy thì, việc Nhà nước Việt Nam có biện pháp xử lý với những đối tượng có hoạt động chống đảng, Nhà nước, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam, mà những đối tượng này có cái mác là tín đồ tôn giáo lại được HRW cho rằng đó là hành động vi phạm quyền tự do tôn giáo! Đó liệu là sự ngu rốt hay sự vu khống có chủ đích của HRW đối với Việt Nam.
Mới phân tích vài điểm ở trên cũng thấy bản chất của bản đánh giá về nhân quyền thế giới nói chung và tình hình nhân quyền tại Việt Nam nói tiêng của HRW.
Thực sự, tôi càng đọc nội dung bản báo cáo về tìn hình nhân quyền ở Việt Nam của HRW càng cảm thấy bức xúc, bức xúc không chỉ vì sự thiếu khách quan về nội dung, mà còn bức xúc hơn nữa về sự yếu kém về trình độ, chuyên môn của đội ngũ ban lãnh đạo, nhân viên của một tổ chức này. Thế mà họ dám đi đánh giá về nhân quyền của các nước, nên chăng các nước nên đệ đơn kiện tổ chức này tội vu khống, hay thiết nghĩ chúng ta không thèm để ý đến bản báo cáo bố láo và ngu rốt của tổ chức này thì hơn?
DTC - YN

22 thg 2, 2013

Sự phi lý trong báo cáo của Human Right Watch


Trong báo cáo tình hình nhân quyền năm 2012, HRW một lần nữa chỉ trích Chính phủ Việt Nam hạn chế đối với bất đồng chính kiến, đối lập chính trị, quyền tự do ngôn luận và hội họp, tự do tôn giáo. Những chỉ trích của Tổ chức này thực sự là phi lý và hơn nữa đó còn là một sự xuyên tạc và vu cáo trắng trợn đối với Nhà nước Việt Nam.
HRW cho rằng, ở Việt Nam đang đàn áp có hệ thống nhằm vào giới đấu tranh cho dân chủ và những người chỉ trích Chính phủ, tiếp tục trấn áp những người bất đồng chính kiến.., bắt bớ, sách nhiễu những người hoạt động chính trị. HWR đã nêu ra các trường hợp Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo như việc bắt giữ 18 người nhóm Bia Sơn ở Phú Uyên, trường hợp Nguyễn Công Chính bị kết án với tội danh vi phạm điều 87 “phá hoại tình đoàn kết dân tộc”; Bùi Văn Thắm bị kết án 30 tháng tù giam cho “chống người thi hành công vụ” và rất nhiều việc mà chính quyền Việt Nam vi pham nhân quyền.
 Những đòi hỏi, chỉ trích của HRW là phi lý và phi pháp, hơn nữa đó còn là một sự xuyên tạc và vu cáo trắng trợn đối với Nhà nước Việt Nam. Có thể khẳng định rõ ràng như vậy bởi mấy lý do cơ bản sau:
Thứ nhất, Việt Nam cũng như bất cứ một quốc gia có chủ quyền nào khác trên thế giới, có quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, độc lập dân tộc, chống lại các âm mưu nhằm lật đổ chế độ xã hội của các thế lực thù địch, phản động được thực hiện dưới các hình thức khác nhau, trong đó có hình thức “diễn biến hòa bình”, “đấu tranh bất bạo động”.
Thứ hai, không có một văn kiện quốc tế nào bắt buộc các quốc gia phải áp dụng một tiêu chuẩn, một quy định pháp lý thống nhất. Các quốc gia có các trình độ phát triển khác nhau, có đặc thù văn hóa, truyền thống... không giống nhau.. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là nguyên tắc tối thượng, bao quát các quan hệ quốc tế trong đó có cả quan hệ pháp lý. Luật quốc tế, trên thực tế, đó là các hiệp ước giữa các quốc gia, nó chỉ phát sinh hiệu lực khi quốc gia nào đó gia nhập; ký kết, phê chuẩn công ước
Thứ ba, trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966, tại Điều 1 quy định: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết...” bao gồm quyền “quyết định thể chế chính trị...”. Điều đó có nghĩa là, một quốc gia - dân tộc lựa chọn chế độ xã hội nào, hệ thống chính trị đa đảng hay “độc” đảng, xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ con người và chế độ xã hội ra sao... là quyền của mỗi quốc gia - dân tộc.
Trong Công ước quốc tế nói trên có các quy định về các quyền dân sự, chính trị như "Quyền tự do ngôn luận”; “Quyền tự do lập hội, hội họp”... nhưng những quyền nói trên không phải là quyền tuyệt đối mà là những quyền bị hạn chế. Có nghĩa là, đối với những quyền trên, các quốc gia có quyền đưa ra các quy định hạn chế nếu đó là cần thiết vì “An ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc vì các quyền và tự do của người khác.”
Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Quyền con người ở Việt Nam ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với những tiến bộ đạt được trong tăng trưởng kinh tế. Điều đó đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới, muốn là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong cộng đồng quốc tế, nỗ lực đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam không bao giờ bó tay trước các âm mưu và hành động lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền", "tự do ngôn luận", "tự do báo chí"... nhằm lật đổ chế độ xã hội mà nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh bao nhiêu mồ hôi, xương máu mới giành lại được. Nhà nước Việt Nam cũng không bao giờ chịu sự áp đặt cái gọi là “chuẩn mức pháp lý quốc tế” cực đoan mà phải hy sinh lợi ích cao nhất của dân tộc, đó là độc lập dân tộc, chủ quyền và an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội, vì đó là tiền đề và điều kiện cơ bản để bảo đảm quyền con người.
Thứ tư, Nếu như HRW thật lòng vì nhân quyền cho Việt Nam, thì trước hết hãy lên án các công ty hóa chất sản xuất chất diệt cỏ có hàm lượng chất độc cao hơn mức cho phép đã được rải xuống đất nước Việt Nam, làm cho bao người dân Việt Nam vô tội bị nhiễm chất độc khủng khiếp đó - bị thứ chất độc màu da cam đó tước đi quyền được sống, được làm một con người khỏe mạnh, bình thường. Những hậu quả của chất dioxin đối với người Việt Nam đến nay vẫn còn hết sức nặng nề với khoảng 4,8 triệu nạn nhân bị ảnh hưởng và 150.000 trẻ em bị dị dạng ngay từ khi mới sinh ra. Hậu quả bi thảm này không biết sẽ kéo dài đến bao giờ và qua bao nhiêu thế hệ./.


9 thg 2, 2013

Cách nhìn quá lỗi thời, sai lệch


Ngày 31-1, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở tại New York đã công bố bản báo cáo tình hình thế giới dày 660 trang, trong đó phần báo cáo về Việt Nam dài 8 trang.

Một lần nữa, phần nội dung chính trong 8 trang liên quan đến Việt Nam này lại là kết quả của cách nhìn méo mó, thiên kiến và đơn giản là sự sắp xếp, tập hợp những thông tin cắt xén, bịa đặt của các tác giả báo cáo HRW.

Với ngôn từ như trong những bản cáo trạng, các tác giả báo cáo của HRW cao giọng: “Chính phủ Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa và trấn áp những người lên tiếng chất vấn chính sách nhà nước, vạch trần quan chức tham nhũng hoặc kêu gọi thay đổi chế độ độc đảng bằng các giải pháp dân chủ. Công an sách nhiễu, đe dọa các nhà hoạt động và người thân của họ. Nhà cầm quyền tùy tiện bắt bớ các nhà hoạt động, giam giữ biệt lập trong thời gian dài, không cho họ gặp gỡ gia đình hoặc tiếp cận với các nguồn trợ giúp pháp lý, tra tấn và truy tố họ ra trước các tòa án bị chính trị tác động, áp đặt các mức án tù thật nặng với các tội danh mơ hồ về xâm phạm an ninh quốc gia”!

Đây quả thật là đỉnh cao óc tưởng tượng lệch lạc của những người viết báo cáo HRW!

Gần như ngay lập tức, những người có lương tri, hiểu lẽ phải đã có những ý kiến phản hồi, cho thấy tính không chính xác trong những điều mà báo cáo của HRW nêu ra liên quan đến ViệtNam.

Trang BBC tiếng Việt thứ sáu, ngày 1-2 đưa tin một số nhà nghiên cứu về Việt Nam trong Nhóm nghiên cứu về Việt Nam (Vietnam Studies Group) đã tranh luận về báo cáo của HRW, không đồng tình với một số nội dung mà báo cáo nêu ra.

Trang này dẫn lời ông Ben Kerkvliet, một học giả nổi tiếng từ Đại học Quốc gia Australia, khẳng định rằng những nhận định của HRW không giống tư liệu ông thu thập được ở Việt Nam: “Nhiều nhà chỉ trích không bị đàn áp, nhiều cuộc biểu tình diễn ra mà không bị công an can thiệp”; “Công nhân, nông dân thường xuyên biểu tình chống tham nhũng, điều kiện làm việc, thu hồi đất… mà không bị sách nhiễu, đánh đập, tạm giữ, bắt giữ hay vào tù”.

Tiến sĩ Thomas Jandl từ Đại học Hoa Kỳ cho rằng, ở Việt Nam, phê phán chính sách thông qua các tổ chức phi chính phủ là điều được cho phép. Lẽ dĩ nhiên, những phê phán đó phải mang tính xây dựng, không làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia.

Mặc dù cố tình bóp méo trên hầu hết các nội dung về quyền con người ở Việt Nam nhưng các tác giả bản báo cáo của HRW cũng không thể chối bỏ nổi một thực tế hiển nhiên là quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam đã được tôn trọng khi phải thừa nhận ngay trong báo cáo rằng: “Quyền ngôn luận cá nhân, báo chí công và thậm chí ngôn luận chính trị ở Việt Nam có những dấu hiệu cho thấy được tự do hơn”.

Báo cáo HRW phải dẫn ra một ví dụ về ý kiến thẳng thắn được đưa ra trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam họp hồi tháng 11-2012 để thừa nhận điều này, dù cố vớt vát bằng một câu quy chụp khá vô duyên và không có cơ sở rằng “vẫn tồn tại làn sóng ngầm của bàn tay đàn áp có chủ trương nhằm vào những người có phát ngôn đi quá giới hạn”!  

Mang danh một báo cáo về nhân quyền, thế nhưng báo cáo của HRW lại có những chi tiết cứ như báo cáo của cơ quan cảnh sát, rằng “sau hàng loạt vụ bắt giữ các quan chức doanh nghiệp nhà nước và các đại gia nhiều vây cánh” (thực tế, những người này vi phạm pháp luật Việt Nam và bị bắt), rồi suy diễn ra một cách rất hồ đồ rằng (ở Việt Nam), các “phe phái” đang “tranh nhau giành quyền kiểm soát bộ máy kinh tế chính trị, dẫn đến một cuộc tranh giành quyền lực hiện vẫn đang tiếp diễn”!

Thật là nực cười cho đầu óc tưởng tượng của các vị “tác giả” báo cáo HRW!

Liên quan đến vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, báo cáo HRW, như thường lệ, vẫn bóp méo thực tế, đưa ra đánh giá bịa đặt rằng: “Chính quyền hạn chế tự do tôn giáo bằng các quy định pháp luật, quy định đăng ký hoạt động, đồng thời sách nhiễu và đe dọa các nhóm tôn giáo không được công nhận…”.

Phụ họa cho luận điệu sai trái này, ra vẻ bám sát thực tế, báo cáo HRW dẫn ra một số trường hợp, trong đó có vụ án “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” ở tỉnh Phú Yên, như sau: “Trong tháng Hai và tháng Ba (năm 2012-TG), Công an tỉnh Phú Yên bắt giữ ít nhất 18 thành viên của một chi phái tín ngưỡng có gốc Phật giáo, tự đặt tên là Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn”.

Hỡi ôi! Có cái gọi là “chi phái tín ngưỡng” nào lại dự kiến hành động lật đổ chính quyền (để thành lập nhà nước Đại Nam Kinh), rồi lập ra cả một bộ máy chính quyền trung ương, có cả quốc kỳ, quốc ca, thủ đô, thậm chí sắc phong cho 72 tướng lĩnh! 

Chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam, từ lâu đã được chủ trương và thể chế hóa trong các văn kiện của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương, giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng”. Quan điểm này tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện trong các kỳ đại hội tiếp theo, được đề cập trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011).

Không giới hạn ở quan điểm chủ trương, tự do và phát triển tôn giáo đã được cụ thể hóa trên thực tế. Hiện cả nước Việt Nam có 12 tôn giáo với trên 22 triệu tín đồ, 80 nghìn chức sắc tôn giáo, nhà tu hành, 32 tổ chức và trên 25.000 nơi thờ tự. Việc xây dựng mới, tôn tạo, tu bổ nơi thờ tự được tạo điều kiện thuận lợi diễn ra khắp nơi trên đất nước. Các dịp lễ trọng, sinh hoạt tôn giáo trở thành ngày hội chung của toàn dân, lôi kéo hàng vạn người tham gia…

Chính sách tự do tôn giáo của Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo của dư luận quốc tế. Trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Cộng hòa I-ta-li-a mới đây, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã có cuộc gặp Giáo hoàng Benedict XVI tại Tòa thánh Vatican trong bầu không khí thẳng thắn, cởi mở, hiểu biết lẫn nhau…

Những thực tế hiển nhiên đó bác bỏ mạnh mẽ những luận điệu xằng bậy về tôn giáo ở ViệtNam trong báo cáo của HRW!

Một trong những nội dung chính luôn lặp đi lặp lại trong các báo cáo của HRW là tố cáo Việt Nam “đàn áp” các nhà hoạt động nhân quyền và báo cáo lần này cũng không phải là ngoại lệ. Báo cáo đã cố tình xuyên tạc hành động của các cá nhân, tổ chức có hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam, coi đó như các nhà “vận động nhân quyền”.

Nhưng có một thực tế khác mà báo cáo đã lờ đi, đó là Việt Nam luôn cương quyết trừng trị những người có hành vi vi phạm pháp luật, nhưng cũng rất khoan dung đối với những người lầm đường lạc lối.

Trên tinh thần nhân đạo, mới đây Việt Nam đã trả tự do cho công dân Mỹ gốc Việt Nguyễn Quốc Quân (tên Mỹ là Richard Nguyễn) là một ví dụ. Một ngày trước hôm HRW phát hành báo cáo xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam, ngày 30-1, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, bà Victoria Nuland, trong buổi tiếp xúc với báo giới, đã xác nhận rằng Mỹ cảm thấy hài lòng về việc công dân Mỹ Richard Nguyễn được trả tự do và đấy là một “tin vui”…

Tất cả những lý lẽ cũng như dẫn chứng nêu trên cho thấy Báo cáo tình hình thế giới 2013 của HRW, phần liên quan đến Việt Nam, hoàn toàn không chính xác, là một sự xúc phạm nhân dân Việt Nam. Đó là cách đánh giá lỗi thời, sai lệch và cần phải bị lên án.

TƯỜNG MINH QĐND

4 thg 2, 2013

Đừng nhìn cuộc đời qua ô cửa kính - đã bụi bám!


Người ta vẫn thường nói xanh như màu hy vọng.
Bạn có biết tại sao hy vọng lại có màu xanh?
Có thể là vì những lúc hạnh phúc của bạn bất ngờ tan vỡ, trái tim nứt đôi để lại một câu chuyện tình đột ngột dang dở, buông lửng.
Hoặc chẳng may bạn vấp khó khăn và ngã vào thất bại, hay tâm trạng của bạn bị đẩy rơi xuống vực thẳm của sự chán nản, tuyệt vọng. Bạn chịu đựng sự bế tắc trong suy nghĩ và mắc kẹt giữa những xúc cảm tồi tệ.
Những lúc như thế bạn chỉ muốn giấu sâu nước mắt nhưng những giọt nước chẳng chịu chơi trò trốn tìm. Bạn muốn tĩnh tâm nhưng các sợi dây thần kinh cứ rối xoắn vào nhau đến ngột ngạt. Bạn muốn trái tim mình dễ thở nhưng ngực cứ nghẹn đi. Bạn lấy tay quẹt khô nước mắt, bạn cúi đầu che đôi mắt nhưng người khác vẫn dễ dàng phát hiện ra khoảnh khắc yếu đuối của bạn.
Bạn đã bao giờ một lần thử ngẩng đầu nhìn lên bầu trời nền màu xanh ngắt, với những đám mây trắng bồng bềnh lơ lửng giữa cơn gió dịu dàng và tan chảy trong màu vàng ấm của nắng, để hong khô nước mắt rồi hy vọng rằng mọi chuyện chưa ổn sẽ nhanh chóng kết thúc chưa?
Hy vọng có màu xanh như màu của bầu trời bởi có quá nhiều lần, con người nhìn lên bầu trời và hy vọng.
Nhưng hy vọng còn có cả màu xám. Những lúc bầu trời u ám, xám tối, mưa chảy ròng ròng, gió quăng quật tát rát những ngọn cây, con người càng cần hy vọng.
Cũng như cuộc đời không phải phủ đầy màu hồng, luôn lấp lánh nụ cười, rạng rỡ niềm vui.
Bạn hãy thử một lần ngồi ở Hồ Gươm vài tiếng đồng hồ cho một buổi chiều không bận rộn - chỉ để nhìn dòng người hối xả chạy vòng quanh. Hãy thử đứng giữa trung tâm các bến xe vào sáng tinh mơ để thấy cuộc đời nhộn nhịp xuôi ngược. Hãy thử vào các bệnh viện lớn mà tận mắt nhìn bao người nằm trên bồn hoa, ghế đá, lang thang vất vưởng ngang dọc, ngồi chen chúc nhau, lên cầu thang dẫm đạp nhau, xé cả hộp bìa cactong trải ở hành lang phòng bệnh nằm chờ thấp thỏm. Những đôi mắt mỏi mệt thất thần. Những giọt mồ hôi chát, những hàng nước mắt mặn. Những nếp nhăn, những sợi tóc trắng. Những khuôn mặt âu lo nhàu nát, những thân phận bị chắp vá bởi bao vất vả, những bữa cơm không trọn vẹn, những giấc ngủ chập chờn mộng ác, hốt hoảng và loay hoay vì thiếu hụt: viện phí, tiền thuốc, tiền và tiền đủ thể loại tiền...
Đớn đau và áp lực. Trĩu cả thân gầy. Những con người ấy chỉ biết bám víu lấy hy vọng mong manh để tiếp tục nỗ lực, tiếp tục đợi chờ, tiếp tục trông mong.
Cả những gánh hàng rong lang thang ngày dài, mà đôi quang gánh vẫn nặng xương vai. Bao nhiêu con phố đã in dấu chân, từ sáng còn mờ sương cho đến khi nắng cuối chiều gần tàn để tắt mà gánh hàng vẫn chưa vơi nhẹ là bao.
Cả những tiếng rao đêm, nghe mà não lòng, những tiếng rao bị màn đêm nuốt nghiến, hụt hơi, yếu giọng rồi im lìm nhưng vẫn đủ ám ảnh chạy vào cơn mơ chập chờn vô tình thức giấc say ngủ của ta.
Cả những đứa trẻ không nhà, không mẹ cha, trú dưới mái hiên lạ cho qua mùa bão giông, nằm vật vờ trên vỉa hè để quên trận đói, nửa ổ bánh mỳ đã ỉu, cũng có thể là một bữa ăn ngon.

Đời đấy. Trong những ánh nhìn ấy, làm gì có màu hồng rực rỡ đâu?
Đừng nhìn cuộc đời qua ô cửa kính, đã bụi bám, đã nhám màu ố của thời gian, khi đó bạn chỉ nhìn thấy bụi nữa thôi. Hãy nhìn đời bằng đôi mắt của chính mình, hãy lại gần hơn những cuộc đời khác, mà thấu hiểu và sẻ chia. Nếu bạn nhìn đời qua cửa kính, dù có sạch bụi, bóng loáng thì bạn vẫn thực sự còn đứng ở chỗ còn khoảng cách rất xa với cuộc đời này!
Blog Tamtay.vn

Đòn đích đáng vào “đường lưỡi bò”

(Dân trí) - Không chỉ các nước trong khu vực mà cả thế giới quan tâm đến sự kiện Philippines kiện Trung Quốc ra Tòa án trọng tài Liên hiệp quốc. Các cáo buộc mà Philippines đưa ra sắc như một lưỡi dao xuyên qua “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc lăm le trên biển Đông.

Cáo buộc “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là phi pháp xét theo luật pháp quốc tế. Điều này rõ rành rành, cả thế giới phẫn nộ và căm ghét cái lưỡi bò tham vọng trên biển Đông. Đưa cáo buộc đầy sức thuyết phục này, cơ hội thắng kiện chắc chắn thuộc về Philippines. Vì âm mưu độc chiếm biển Đông, Trung Quốc tự vẽ ra “đường lưỡi bò” và đây chính là  điểm yếu nhất của Trung Quốc mà Philippines tận dụng để khai thác.

Cũng từ cái đường lưỡi bò này, các cáo buộc khác như Trung Quốc đã chiếm giữ và xây dựng cơ sở trên các bãi đá ngầm, bãi cạn, bãi cạn lúc chìm lúc nổi... trên biển Đông mà Philippines cho là bất hợp pháp càng có sức thuyết phục hơn.

Vì sao Philippines đưa vụ kiện ra Tòa án trọng tài Liên hiệp quốc, theo Bộ Ngoại giao nước này, là đã vận dụng mọi giải pháp chính trị và ngoại giao để giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc một cách hòa bình nhưng bất thành. Quả đúng như vậy, một nước lớn nhưng không biết nói chuyện tử tế, chỉ cậy sức mạnh và sự ngang ngược, nói một đường làm một ngả như Trung Quốc thì ai cũng biết. Philippines đã bất thành trong đối thoại và không còn cách nào khác hơn là tìm giải pháp ở tòa án quốc tế. Đây là lựa chọn khôn ngoan và phù hợp nhất để đấu tranh với Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ của họ.

Bộ Ngoại giao nước này cũng khẳng định, nếu Philippines không hành động, cộng đồng quốc tế sẽ cho rằng Manila ngầm chấp thuận việc Trung Quốc “thực hiện chủ quyền” trên vùng biển Philippines bằng các tàu hải giám. Một quan điểm rất sắc sảo, rất rõ ràng. Nếu như Trung Quốc cứ xâm lược từng bước, gặm nhấm từng bãi đá ngầm, vùng biển của Philippines mà họ cứ im lặng, thì chỉ có thể làm cho thế giới hiểu rằng đó là sự ngấm ngầm chấp thuận cho Trung Quốc thực hiện chủ quyền của họ trên biển Đông.

Mỗi quốc gia có cách riêng để giải quyết tranh chấp trên biển Đông, phù hợp với điều kiện và thế mạnh của từng nước. Philippines đã biết khai thác thế mạnh của họ. Bước đi đầu của Philippines ra Tòa án trọng tài Liên hịêp quốc sẽ tạo tiền lệ và kinh nghiệm để các nước khác có định hướng thích hợp.

Quốc tế hóa tranh chấp biển Đông, trên cơ sở hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế chính là hành động cụ thể và quyết liệt này đây, không phải là lời phát ngôn đăng trên các trang báo.

Lê Chân Nhân

1 thg 2, 2013

Giới trẻ 'nghèo' nhất tài sản gì?


Cách đây vài năm, ngôn ngữ thời @ xuất hiện một thành ngữ thông dụng: sống bằng niềm tin. Anh không có tiền - sống bằng niềm tin, anh không có nhà - sống bằng niềm tin, v.v... Đại loại, ý nghĩa của nó là nếu không có một số thứ (hoặc hoàn toàn không có gì), thì anh chỉ có nước lôi niềm tin ra làm vốn sống.
Trớ trêu thay, thứ tưởng như ai cũng có lại là thứ thiếu nhất trong cuộc sống hiện tại. Thế hệ trẻ hiện nay đang đối diện với một cuộc khủng hoảng niềm tin, mà ngoài chính họ ra không ai khác có thể giải quyết được.
"Thế hệ mất mát"
Những ai từng đọc Ernest Hemingway có lẽ đều biết đến Lost Generation - tạm dịch là "thế hệ mất mát". Cụm từ này chỉ những người đi ra từ Chiến tranh Thế giới thứ nhất và cảm thấy lạc lõng, mất phương hướng trong cuộc sống hiện tại. Với họ, chiến tranh đã phá vỡ hoàn toàn lý tưởng mà họ có trước đó, trong khi niềm tin mới chưa hình thành.
Những thế hệ đứng giữa sự chuyển mình của thời đại thường gặp phải vấn đề về lý tưởng sống như vậy. Đó là lớp thanh niên phương Tây với phong trào hippie trong thập niên 1960-1970, là cuộc nổi loạn của giới trẻ Nhật Bản hơn chục năm trước, hay gần đây nhất là phong trào Chiếm phố Wall trên quy mô toàn cầu.
Giới trẻ Việt Nam ngày nay, đứng trước những thay đổi chóng mặt của cuộc sống và xã hội, cũng không phải ngoại lệ.
Tốc độ phát triển kinh tế, đô thị hóa nhanh chóng, cùng với sự đón nhận cởi mở các giá trị từ bên ngoài đã tạo ra một không gian sống hoàn toàn mới cho giới trẻ. Quan hệ xã hội đã được cởi trói ra khỏi những ràng buộc địa lý, mở hơn, nhưng tất nhiên cũng phức tạp hơn.
Internet trở thành môi trường sống thứ hai của giới trẻ (nếu xét về mặt thời gian sử dụng, có lẽ nó phải môi trường số một). Ở đó, họ trải nghiệm những tự do không rào chắn mà cha ông ngày xưa trong mơ cũng không thể nghĩ đến.
Không gian vật chất thay đổi nhanh chóng khiến nhiều giá trị cũ lụi tàn, hoặc không cũng bị thách thức bởi thời cuộc.
Xã hội đòi hỏi khả năng làm việc thực chất, nhưng hệ thống giáo dục vẫn nặng về khoa cử, thành tích. Chúng ta nói về trọng người tài, nhưng chuyện chạy việc, chạy công chức, chạy biên chế dù không mấy người dám công khai nhưng ai cũng ngầm hiểu.
Chúng ta nói về liêm khiết và chính trực, nhưng tham nhũng và hối lộ ngày càng khó kiểm soát, len lỏi đến cả những hoạt động thường ngày như đi khám bệnh.
Chúng ta tuyên bố đề cao giá trị tinh thần, nhưng thực tế cuộc sống lại trơ trụi như một cô người mẫu nổi tiếng từng phát biểu, "không có tiền thì cạp đất mà ăn".
Đứng trước những mâu thuẫn đó, thật khó để thuyết phục người trẻ tin theo lời của "người lớn" về giá trị sống. Giới trẻ như bị kẹt giữa hai "làn đạn", như người đang đi trên dây giữa một bên là di sản niềm tin cũ đang mong manh, một bên là những tư tưởng dẫn đường mới chưa hình thành.
"Nhiều cách sống" 
Giới trẻ hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau với cuộc khủng hoảng tư tưởng mà có thể chính họ cũng không nhận ra.
Với một số người, giá trị sống ý nghĩa nhất là phải khẳng định được bản thân, theo nhiều cách: tham gia nhiều hoạt động nhất có thể, nỗ lực thăng tiến, hay chỉ đơn giản là kiếm được nhiều tiền. Vì thế nên giai đoạn "khủng hoảng tư tưởng" cũng là lúc xuất hiện nhiều những doanh nhân 8X, 9X thành đạt, dám nghĩ dám làm nhất, những nhà hoạt động xã hội trẻ tuổi xông xáo và nhiệt tình nhất.
Số khác mang trong mình "mầm mống nổi loạn", muốn bứt phá khỏi khuôn khổ gò bó. Đó là lúc phong trào "phượt" nở rộ, với không gian "xê dịch" thậm chí mở rộng tới những vùng đất xa xôi, như tác giả trẻ Huyền Chip của bộ sách "Xách ba-lô lên và đi". Lựa chọn "xê dịch" phần nào cho thấy cảm giác muốn tìm về chính mình, được cân bằng trong một không gian sống mới chưa định hình của giới trẻ.
Và cũng có bộ phận giới trẻ lựa chọn bấu víu vào những "giá trị ảo" làm lẽ sống: đó có thể là game online, âm nhạc, hay mạng xã hội. Từ chuyện những "fan cuồng" K-pop đến mức mắng chửi cả bố mẹ, hay những thanh niên sẵn sàng giết người chỉ để có tiền "cày" game, đều bắt nguồn từ sự tha hóa của lẽ sống.
Đi mãi sẽ thành đường
Dù lựa chọn cách sống nào, thì thực tế cũng là giới trẻ đang phải tự mình dò đường đi. Tất nhiên, trong một môi trường mở và thông thoáng hơn, thế hệ trẻ không thể mong đợi xã hội và nhà nước "dắt tay từng bước" như với đứa trẻ lên ba. Bản thân người trẻ cũng không bao giờ mong muốn như vậy.
Nhưng điều đó không có nghĩa là nên bỏ mặc họ đi trên dây khi chưa được học cách giữ thăng bằng. Làm vậy chẳng khác nào đẩy một con chim non chưa đủ lông cánh ra khỏi tổ tập bay.
Thay vào đó, hãy dạy nó cách kiếm ăn, cách tự bảo vệ mình, cách sống với đồng loại trước khi để nó lựa chọn những khoảng trời riêng của mình. Đáng buồn thay, có vẻ như chúng ta đang thiếu cả thời gian lẫn quyết tâm để hiện thực hóa điều đó.
Bên cạnh đó, có một tâm lý rất phổ biến hiện nay cho rằng giới trẻ đang đi lầm đường, không biết phân biệt phải - trái - đúng - sai, và xã hội cần phải tăng cường định hướng hơn nữa cho họ. Bản thân người viết cho rằng cách đó vô tác dụng. Bởi vấn đề của niềm tin phải được giải quyết bởi niềm tin, chứ không phải bằng ép buộc và kiểm soát.
Niềm tin chỉ được xây dựng trên nền tảng những hành động thực chất, những nỗ lực hữu hình. Hành động đó có thể bắt đầu từ những thay đổi trong hệ thống giáo dục, tuyển dụng người tài, cho đến những vấn đề vĩ mô hơn như giải quyết nạn tham nhũng hay gia tăng hiệu quả chính sách.
Không thể nói nhà nước tạo mọi điều kiện cho giới trẻ lập nghiệp, nếu như môi trường kinh doanh của nước ta luôn xếp hạng dưới trung bình trên toàn thế giới (thứ 99/185-theo Báo Cáo Môi Trường Kinh Doanh 2013 của World Bank), và đa phần doanh nhân trẻ phải tự xoay sở để gom vốn mà không hề biết đến sự tồn tại của quỹ hỗ trợ khởi nghiệp.
Không thể nói mở cửa cho người trẻ thể hiện tài năng, trong khi "đường vào" các cơ quan nhà nước vẫn muôn trùng cửa ải đối với những người không thuộc diện "hậu duệ, quan hệ, tiền tệ".
Và cần hơn cả là niềm tin của thế hệ đi trước vào thế hệ hiện tại. Hãy tin họ như thế hệ thanh niên thời chiến tranh nhận được niềm tin sẽ giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, hay thế hệ Đổi mới sẽ đưa VN thoát khỏi trì trệ. Thế hệ 8X, 9X cũng có đủ năng lực để chèo lái dân tộc đi đến những cột mốc mới.
Tin tưởng đồng nghĩa với việc hiểu rằng giới trẻ hiện nay khác với những người đi trước, và do vậy không thể áp đặt giá trị sống, lối tư duy cũ lên họ. Xã hội chỉ nên tạo ra điều kiện cần giúp họ phát triển thành những người trưởng thành, có lý trí, và đến lúc đó hãy để cho họ tự do suy nghĩ, lựa chọn con đường riêng của mình.
Lỗ Tấn từng nói, trước kia làm gì có đường, người ta đi mãi thì mới thành đường đó thôi. Nếu không để cho giới trẻ khám phá những con đường mới, thì sau này chúng ta lấy đâu ra đường để đi?