Hiển thị các bài đăng có nhãn SỰ KIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SỰ KIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng

21 thg 12, 2012

Trung Quốc không ngừng thêm dầu vào lửa

Hy vọng trước đó về khả năng quá trình chuyển giao lãnh đạo của Trung Quốc sẽ giúp giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông đã phai mờ khi Bắc Kinh ngày càng thể hiện một lập trường quyết đoán hơn trong các vùng biển tranh chấp.

Quy định mới công bố gần đây của Trung Quốc cho phép tàu tuần tra nước này vào năm tới bắt đầu được quyền "ngăn chặn và khám xét" bất cứ tàu nước ngoài nào đi vào khu vực trên Biển Đông mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền chính là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tự do hàng hải tại một khu vực có tầm quan trọng rất lớn đối với thương mại toàn cầu.
Như đổ thêm dầu vào lửa, Bắc Kinh mới đây còn phát hành hộ chiếu mới cho công dân nước mình trên đó có in bản đồ bao gồm tất cả các lãnh thổ tranh chấp trên Biển Đông và xa hơn. Đông thái này đã thổi bùng những căng thẳng ngoại giao mới với các bên tuyên bố chủ quyền Biển Đông khác.
Chưa hết là chuyện Campuchia, quốc gia thân cậy của Trung Quốc, từ chối đưa các tranh chấp lãnh thổ đang diễn ra này vào chương trình nghị sự chính thức của Hội nghị Thượng đỉnh các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vừa kết thúc. Vì lý do này, Philippine đã lên tiếng phản đối chính thức quyết định loại bỏ vấn đề trên của nước chủ nhà.
Có nhiều nguyên nhân giải thích tại sao Trung Quốc trở nên quả quyết hơn đối với các tranh chấp lãnh thổ. Nhằm củng cố quyền lực, giới lãnh đạo mới tại Bắc Kinh rõ ràng không muốn liều lĩnh đánh mất sự ủng hộ của dân chúng nếu rút lại quan điểm ngày càng cứng rắn của mình đối với vấn đề là di sản từ thời Hồ Cẩm Đào.
Ảnh minh họa
Giống như việc Israel vừa thử thách cam kết của Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa tái đắc cử đối với Trung Đông bằng cách tiến hành một cuộc tấn công bất ngờ vào dải Gaza, Tập Cận Bình cũng có thể đang muốn thăm dò cái gọi là "xoay trục chiến lược" của Mỹ về châu Á - Thái Bình Dương bằng cách đe dọa các đồng minh khu vực của Mỹ. Hơn 2 năm sau cuộc "xoay trục", vẫn còn đó những câu hỏi chưa rõ đáp án về ý đồ, tính khả thi và ảnh hưởng của chiến lược này.
Trong khi đó, các quốc gia khu vực cũng đang đặt cược lớn hơn vào tranh chấp theo những cách khác nhau, có thể không phải chỉ để thử quyết tâm của Trung Quốc và ghi điểm số chính trị ở trong nước mà còn để khuyến khích sự can dự chiến lược nhiều hơn từ phía Mỹ.
Thử thách sự chuyển hướng chiến lược của Mỹ
Thời gian Trung Quốc đưa ra những sự khiêu khích gần đây thể hiện một số điều đáng quan tâm. Trong Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tổ chức tại Hà Nội năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton đã trực tiếp đưa Mỹ vào tranh chấp Biển Đông khi tuyên bố Mỹ có "lợi ích quốc gia" trong "tự do hàng hải" ở Tây Thái Bình Dương, bao gồm cả các vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Quyết định chọn Đông Nam Á là điểm đến nước ngoài trong nhiệm kỳ thứ 2 của Obama, ít nhất là về mặt biểu tượng, đã cho thấy cam kết khẳng định vai trò của Mỹ như "một mỏ neo cho sự ổn định và thịnh vượng" tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
"Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương có lợi ích gắn kết chặt chẽ với trật tự kinh tế, an ninh và chính trị của châu Á", cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Tom Donilon nói về chuyến công du châu Á gần đây của Obama, với các điểm dừng chân tại Campuchia, Myanmar và Thái Lan. "Thành công của Mỹ trong thế kỷ 20 gắn liền với thành công của châu Á".
Trong khi nhấn mạnh khía cạnh kinh tế của chính sách "xoay trục", thể hiện ở việc thúc đẩy thỏa thuận thương mại tự do toàn khu vực, hay còn gọi là Dự án Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Washington cũng đồng thời thể hiện thái độ nước đôi trng khía cạnh quân sự nhiều ý nghĩa hơn.
Một nghiên cứu mới đây của David Berteau và Michael Green, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington, có nêu, "Bộ Quốc phòng đã không trình bầy đủ chi tiết về chiến lược đằng sau kế hoạch bố trí lực lượng, hay gắn kết chiến lược đó với các nguồn lực theo cách phản ánh đúng hơn thực tế ngân sách hiện nay".
Mỹ vừa qua tuyên bố kế hoạch bổ sung thêm vài nghìn lính và điều chuyển khoảng 10% tài sản hải quân về khu vực trong thập niên tới. Giả sử chính phủ Obama trung thực về các kế hoạch của mình, vẫn có hai lý do khiến Mỹ thể hiện sự mập mờ trong chiến lược như vậy:
-         Mỹ có chủ đích tránh đối kháng với Trung Quốc và trao quyền cho những người ôn hòa thay vì cho những nhóm diều hâu trong lực lượng quốc phòng-an ninh Mỹ.
-         Những bất ổn tài chính nghiêm trọng có thể ảnh hưởng xấu đến cam kết và khả năng hoạt động dài hạn của Mỹ.
Trong những tháng qua, cả Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta và Ngoại trưởng Clinton đều đã nhiều  lần trấn an Trung Quốc rằng chính sách "xoay trục" của Mỹ không nhằm kiềm chế sự vươn lên của nước này. Để củng cố cho những khẳng định đó, Hải quân Mỹ mới đây đã tuyên bố mở cửa cho Trung Quốc tham gia vào các cuộc tập trận Vành đai Thái Bình Dương RIMPAC 2014. Trong khi tích cực phát triển khả năng "chống tiếp cận" (A2/AD) và tiềm lực hải quân, Trung Quốc dường như vẫn chưa tin những phát biển hòa giải của Mỹ hay cảm thấy thoái chí bởi sự chuyển hướng chiến lược ấy.
Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ (PACOM) đang đứng trước thách thức cơ bản về ngân sách: ngay cả khi chính quyền cam kết duy trì đều đặn tiềm lực của Mỹ ở châu Á trong khi cắt giảm cơ cấu lực lượng ở những nơi khác, con số 486 tỷ USD dự kiến cắt giảm cũng có nghĩa sẽ làm lõm các tài sản của tư lệnh khác theo hướng cuối cùng sẽ phải rút lại lực lượng trong cơ cấu PACOM khi khủng hoảng nổi ra ở Trung Đông hay nơi khác", Green viết trong báo cáo của CSIS.
Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter vừa nói, cắt giảm thêm 500 tỷ USD ngân sách quốc phòng theo điều khoản "tiết kiệm" của luật ngân sách vừa được quốc hội thông qua sẽ gây "xáo trộn, lãng phí và nguy hại, không chỉ với quốc phòng mà còn với mọi chức năng khác của chính phủ".
Được đà lấn tới
Một số nhà phân tích chiến lược tin rằng việc Mỹ không chắc chắn khả năng tài trợ cho chính sách "xoay trục" đã càng khuyến khích thành phần diều hâu trong giới lãnh đạo mới của Trung Quốc, bảo gồm cả những người muốn mở rộng giới hạn các tranh chấp lãnh thổ như một cách làm dân tộc chủ nghĩa để củng cố quyền lực và tính chính danh ở trong nước.
Với những sự khiêu khích gần đây và khả năng ASEAN không thể thực thi các nguyên tắc dù chỉ mang tính tạm thời về một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông có ràng buộc pháp lý, một số nhà phân tích chiến lược cũng đặt vấn đề liệu các tranh chấp lãnh thổ và tiềm năng cản trở tự do hàng hải của chúng có sẽ dẫn tới một cuộc đối đầu vũ trang giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm tới.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland phát biểu trong phần trả lời về phản ứng của Mỹ đối với tuyên bố "ngăn chặn và khám xét" tàu nước ngoài của Trung Quốc mới đây: "Tất cả các bên liên quan nên tránh mọi hành động khiêu khích hay đơn phương có thể làm gia tăng căng thẳng hay phá hoại triển vọng về một giải pháp thương lượng".
Trong khi đó, phát ngôn viên Lầu Năm Góc George Little thì phát biểu: "Là một cường quốc Thái Bình Dương, chúng tôi có lợi ích quốc gia trong tự do hàng hải và phát triển kinh tế - thương mại không bị cản trở và thượng tôn pháp luật. Đồng minh, đối tác và sự hiện diện xuyên suốt của chúng tôi tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều nhằm hỗ trợ các mục tiêu này".
Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan cũng cảnh báo kế hoạch chặn và kiểm tra tàu nước ngoài của Trung Quốc sẽ làm gia tăng "mức độ quan ngại và lo lắng trong tất cả các bên, đặc biệt các bên cần tiếp cận, lui tới và tự do đi qua".
Bất chấp nhiều cảnh báo và báo động, vẫn chưa rõ Trung Quốc sẽ sẵn sàng liều lĩnh với một cuộc đối đầu toàn diện trong khu vực hay không. Quyết định "ngăn chặn và khám xét" ban đầu do các quản chức đảo Hải Nam công bố, vẫn chưa hoàn toàn được giới lãnh đạo cấp cao chấp nhận. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cam kết giữ tự do hàng hải trên Biển Đông, nhưng cũng rất mập mờ về những những hành vi cấu thành "sự xâm nhập trái phép" hay vi phạm chủ quyền Trung Quốc của tàu nước ngoài.
Các quan chức cấp cao tỉnh Hải Nam như Wu Shicun, tổng giám đốc văn phòng đối ngoại tỉnh Hải Nam, đã cố gắng trấn an các nước láng giềng vốn đang rất lúng túng bằng khi nói rằng các quy định/lệnh cấm mới chỉ áp dụng đối với các tàu tham gia các hoạt động phi pháp (điều cũng không được định nghĩa rõ ràng) trong khu vực 12 hải lý, hay vùng nội thủy, của Trung Quốc.
Ngoài ra, những hành động gần đây của Trung Quốc cũng nhằm phản ứng lại sự quả quyết của các đồng minh Mỹ trong khu vực, như nỗ lực mua lại các đảo tranh chấp của Nhật, Philippine kêu gọi Mỹ can dự chiến lược nhiều hơn. Nhưng khi mỗi bên cùng lớn tiếng và đe dọa nhau thì nguy cơ xảy ra xung đột tại Biển Đông sẽ tiếp tục tăng lên.
Tuanvietnam.net

18 thg 12, 2012

Người Hà Nội đang tự làm khổ nhau

Nhắc đến văn hóa ứng xử của người Hà Nội hiện nay nói chung, không ít người đã bày tỏ sự thất vọng xen lẫn với tiếc nuối... Sự thất vọng ấy không bắt đầu từ những điều to tát, cao xa mà đôi khi chỉ là những câu chuyện xảy ra thường ngày. Theo nhà phê bình văn học Nguyễn Hòa, ngày xưa, những hành vi, những cách ứng xử văn minh, thanh lịch vốn là chuyện thường ở Hà Nội thì nay đã bị mai một đi nhiều, thay vào đó là rất nhiều những hành vi thiếu văn minh và vắng bóng những lời cám ơn, xin lỗi...

Chỉ lấy một ví dụ rất nhỏ như, sống cùng nhau trong một khu tập thể nhưng nhiều gia đình không bao giờ biết cầm đến cái chổi để quét cầu thang. 

Nhiều người tự hào là người Hà Nội, họ thường xuyên nhắc nhở những người nhập cư khác phải sống sao cho đúng là người Hà Nội nhưng lại quên chuyện mình đang nói nhầm lẫn giữa L và N.

Khi tham gia giao thông, ai cũng cố bằng mọi cách len lên phía trước chỉ để đoạt lấy một mẩu đường bằng nửa cái bánh xe. Họ lấn cả sang đường bên trái để tìm chỗ cho riêng mình, rồi lại tự làm khổ nhau vì đường tắc. 

Nhiều phụ huynh đi đón con thì chỉ chăm chăm coi con mình là mục tiêu duy nhất. Họ không ngại phóng xe vèo vèo, đỗ ô tô chềnh ềnh trước cổng trường, rồi chen lấn, mặc cho những đứa trẻ vai lễ mễ ba lô, mặt mày nhớn nhác len lỏi giữa rừng xe máy, ô tô phun khói mù mịt. Đón được con xong, người ta lại chen lấn, và sẵn sàng trợn mắt, văng tục, đôi khi sẵn sàng giơ nắm đấm nếu chẳng may có chiếc xe máy nào chắn lối hoặc va quệt vào họ. 

Vội vàng là thế, hối hả là thế nhưng mỗi khi trên đường xảy ra một sự cố giao thông hay một việc gì đó là lại có không ít người không tiếc thời gian tụ bạ để ngó nghiêng, bàn tán với vẻ tò mò thích thú mặc cho người bị nạn nằm còng queo dưới đất. 

Đấy là đối với người còn sống, còn với người đã khuất thì khỏi phải nói, ngày xưa, theo lời kể của nhà phê bình Nguyễn Hòa, khi một chiếc xe tang chầm chậm đi qua, thì bao giờ những người đi bên đường cũng xuống xe ngả mũ rồi thành kính cúi đầu. Đó là bày tỏ sự thành kính đối với những người đã khuất. 

Ngày nay, vì điều kiện đường sá, xe cộ đông đúc, nhịp sống cũng hối hả hơn, nên khó mà có chuyện người ta có thể xuống xe để cúi chào một người đã khuất. Nhưng, đi ngang qua xe tang mà người ta vẫn vô tư bóp còi inh ỏi, hoặc cố vượt lên trước bằng mọi giá thì quả thật là xót xa. 

Thế cho nên, theo nhà phê bình Nguyễn Hòa, trong bối cảnh văn hóa Hà Nội đang diễn biến phức tạp như hiện nay thì việc xây dựng một hệ thống quy tắc ứng xử trong cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, nơi công cộng là hết sức cần thiết và không thể chậm trễ.

Nhưng ai cũng biết, để có được chuẩn mực trong văn hóa ứng xử thì phải có một quá trình đào luyện lâu dài. Trong đó, việc học hỏi tấm gương của người đi trước là thiết thực, và thường xuyên nhất. 

“Khó có thể dạy một cháu bé rồi đây ra đường sẽ dừng lại trước đèn đỏ nếu hàng ngày cháu vẫn ngồi sau xe máy của cha mẹ vô tư vượt đèn đỏ. Khó có thể dạy một cháu bé lớn lên có thể nói lời trang nhã nếu hàng ngày ngay trong gia đình của mình, cháu vẫn nghe cha mẹ văng tục, chửi bậy; khó có thể dạy một cháu bé rồi đây sẽ sống lành mạnh nếu hàng ngày cháu được chứng kiến có người thậm thụt tới nhà đưa cha mẹ cháu chiếc phong bì, rồi gãi đầu gãi tai: “anh chị giúp em”. Càng khó có thể giúp các cháu bé giải quyết nghịch lý giữa điều thầy cô dạy ở lớp học rằng, phải giữ gìn môi trường, trong khi chỉ ra khỏi cổng trường là các cháu bắt gặp vô số người lớn xả rác bừa bãi, thuận tay là ném, không cần biết vệ sinh môi trường là gì?” - nhà phê bình Nguyễn Hòa nói.

Vũ Lụa

4 thg 12, 2012

Điều ngạc nhiên của tướng Pháp về 'hộ chiếu lưỡi bò'


Nhân sự kiện Trung Quốc cho in bản đồ có "đường lưỡi bò" lên hộ chiếu điện tử của công dân Trung Quốc, gây ra sự phản đối quốc tế ở những mức độ khác nhau, Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Tướng Daniel Schaeffer, người vừa tham dự Hội nghị Quốc tế về Biển Đông lần thứ tư tại TP HCM.
Tướng về hưu Daniel Schaeffer nguyên là tùy viên quân sự của Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan, và hiện là một nhà nghiên cứu độc lập về Biển Đông.
Đánh lận con đen?
Ông đánh giá thế nào về sự leo thang của Trung Quốc liên quan đến tấm bản bồ "đường lưỡi bò"? Năm 2009, họ trình tấm bản đồ này lên Liên Hợp Quốc, và đến nay thì họ in thẳng vào hộ chiếu điện tử của công dân của họ.
Vấn đề là tấm bản đồ không được in ra mặt ngoài, mà ở các trang bên trong. Tôi nghĩ đây là một thủ đoạn mới của Trung Quốc nhằm tìm kiếm cái mà họ cho là "sự công nhận" của tất cả các nước trên thế giới.
Chẳng hạn, một công dân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đến Pháp với một tấm hộ chiếu có in bản đồ "đường lưỡi bò" như vậy. Hải quan Pháp sẽ đóng dấu nhập cảnh lên cái trang có bản đồ, hay không?
Cho tới giờ thật khó có thể có một đánh giá đầy đủ về động thái này của Trung Quốc. Nhưng có một điều chắc chắn tôi biết là không chỉ ở những nước có tranh chấp với Trung Quốc về lãnh thổ, lãnh hải như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, hay Ấn Độ, mà ở nhiều nước khác người ta đã lên tiếng, ở những mức độ khác nhau, về hành động này của Trung Quốc.
Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là Trung Quốc đã giới thiệu mẫu hộ chiếu mới này vào ngày 12.5.2012, trước các phóng viên nước ngoài và đại diện ngoại giao nước ngoài tại Bắc Kinh, nhưng tại thời điểm đó, không ai lên tiếng gì cả về loại hộ chiếu mới này.
Tôi nghĩ, nếu có sự phản đối mạnh mẽ, ít nhất là từ những nước cũng có yêu sách về chủ quyền Biển Đông, chắc hẳn Trung Quốc phải xem xét lại quyết định của họ. Chứ bây giờ thì quá muộn rồi, bởi hộ chiếu đã được Trung Quốc in và được cấp cho công dân của họ.
Ông có chắc là có cuộc họp báo vào ngày 12.5.2012 để giới thiệu mẫu hộ chiếu mới này?
Khi câu chuyện bắt đầu ầm ĩ lên trong tháng này, tôi đã tìm kiếm trên Internet tất cả các nguồn thông tin có thể, và tôi đọc được thông tin rằng đã có một cuộc giới thiệu không chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc trước các phóng viên quốc tế, cũng như đại diện ngoại giao, tại Bắc Kinh.
Nguồn thông tin này cũng khẳng định rằng mọi người đều biết về mẫu hộ chiếu mới của Trung Quốc kể từ ngày 12.5.2012. Nếu đúng như vậy, tại sao bây giờ mới có sự phản ứng, tôi không hiểu.
Xin được hỏi lại ông rằng ông đọc tin này ở nguồn nào? Nhân dân Nhật báo, Tân Hoa Xã, hay AFP, chẳng hạn?
Nguồn tin của Trung Quốc, hình như là Tân Hoa Xã.
Tôi vẫn thắc mắc là nếu AFP, Reuters, hay AP có mặt ở đó, họ chắc chắn sẽ phát hiện ra điều gì bất thường trong mẫu hộ chiếu mới. Hoặc, có thể Việt Nam có những lý do riêng để tìm cách khác, chứ Philippines thì họ ngại gì. Bởi lúc đó vụ Scarborough cũng đang lên tới đỉnh điểm căng thẳng mà. Ông có nghĩ như vậy không?
Đúng thế. Tôi chỉ tìm thấy nguồn thông tin từ Trung Quốc thôi.
Tôi đồ rằng, có thể trong cuộc họp báo đó họ không nói cụ thể là mẫu hộ chiếu mới sẽ có in tấm bản đồ, bao gồm cả phần lãnh thổ và lãnh hải hiện đang trong tình trạng tranh chấp với các nước láng giềng, hoặc trong khu vực.
Kiểu đánh lận con đen?
Có thể như vậy.
Nỗ lực quốc tế để chặn Trung Quốc
Có một học giả nước ngoài tham dự Hội thảo Quốc tế Việt Nam Học tại Hà Nội, khi trao đổi với tôi, có nêu ra ý kiến rằng Việt Nam nên làm cái dấu có khắc những dòng chữ bác bỏ yêu sách của Trung Quốc, thể hiện trên tấm bản đồ "đường lưỡi bò", và cộp thẳng lên những tấm hộ chiếu đó. Như vậy, phía Trung Quốc, nếu không muốn giữ cái dấu "ô nhục" đó, họ sẽ phải tự hủy loại hộ chiếu đó đi.
Hơn nữa, Việt Nam cũng không thể áp dụng cách của Ấn Độ là cấp cho công dân Trung Quốc đi qua cửa khẩu một tấm thị thực rời có in tấm bản đồ của Ấn Độ, có cả 2 khu vực mà Ấn Độ khẳng định chủ quyền. Bởi, tranh chấp ở Biển Đông là tranh chấp đa phương, chứ không phải song phương.
Ông có nghĩ là thủ đoạn mới này của Trung Quốc sẽ giúp họ tìm được sự công nhận lớn hơn trong cộng đồng quốc tế về yêu sách "đường lưỡi bò" của họ không?
Tôi không tin là họ có thể bằng hành động này có thể chứng tỏ với cộng đồng quốc tế Biển Đông là của họ. Rõ ràng, Biển Đông, cũng như Bắc Băng Dương, hay Địa Trung Hải, được coi là vùng biển quốc tế, bởi vì chúng phục vụ cho lợi ích chung của loài người, chứ chẳng riêng quốc gia nào.
Tôi nghĩ nếu Trung Quốc tự tin rằng về mặt pháp lý Biển Đông là của họ, thì họ hãy mạnh dạn đưa ra trước tòa án công lý quốc tế để phân xử rõ ràng. Thế nhưng, Trung Quốc luôn lẩn tránh trước đòi hỏi này.
Ngay cả thời kỳ Pháp đô hộ Đông Dương, khi có tranh chấp chủ quyền ở Hoàng Sa, chính quyền Trung Hoa cũng không dám cùng Pháp, với tư cách là đại diện cho quyền lợi của nước An Nam, ra tòa án quốc tế để phân xử.
Ông có để ý rằng tháng 5.2009 Trung Quốc lần đầu tiên công bố chính thức, ở cấp nhà nước, tấm bản đồ "đường lưỡi bò", kèm theo bức thư phản đối Việt Nam và Malaysia. Các học giả về Biển Đông dường như đều nhất trí rằng đó là động thái bị động của Trung Quốc, khi Việt Nam và Malaysia cùng trình bản yêu sách chung về thềm lục địa mở rộng lên Liên Hợp Quốc, mặc dù Trung Quốc chưa có sự chuẩn bị nào về cơ sở pháp lý.
Và qua các hội thảo quốc tế Biển Đông tại Việt Nam mà ông đã tham dự, cũng như tại các hội thảo quốc tế khác, các học giả Trung Quốc cứ quanh co giải thích nào là vùng nước lịch sử, nào là di sản của quá khứ (từ thời Tưởng Giới Thạch). Điều đó chứng tỏ cơ sở pháp lý của họ yếu đến mức nào.
Thế nhưng, sau ban năm, bằng hành động in bản đồ lên hộ chiếu, dường như họ đã chủ động thách thức các nước có yêu sách chủ quyền khác ở Biển Đông, cũng như dư luận quốc tế. Đó là bước leo thang mới?
Đúng vậy, cùng với gia tăng khẳng định cái gọi là "Tam Sa", rồi tổ chức tour ra Hoàng Sa (của Việt Nam)... Tôi nghĩ họ sẽ không dừng lại. Vấn đề là cộng đồng quốc tế phải tìm cách chặn họ lại.
Ông nghĩ bằng cách nào?
Nhiều nước phương Tây có lợi ích kinh tế ở Trung Quốc nên chắc gì đã có phản ứng mạnh mẽ với Trung Quốc, với tư cách từng quốc gia đơn lẻ. Thế nhưng, theo tôi, một nỗ lực chung cần thiết vẫn là phải buộc Trung Quốc từ bỏ yêu sách "đường lưỡi bò", vì đó là vùng biển quốc tế, ảnh hưởng nhiều đến hàng hải và thương mại quốc tế.
Mặc dù Trung Quốc vẫn khẳng định rằng yêu sách của họ không ảnh hưởng gì đến tự do hàng hải, nhưng liệu ai dám tự tin nói rằng một khi yêu sách "đường lưỡi bò" được công nhận, Trung Quốc vẫn tôn trọng cái quyền này, mà không biến thành "ao nhà" của họ?
 HUỲNH PHAN

2 thg 12, 2012

Thông tin một cách có trách nhiệm và nhân văn

Một trong những chủ đề được các nhà báo và quan chức ngoại giao tham gia Diễn đàn hợp tác truyền thông 10+3 (10 nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) là làm thế nào để báo chí, các cơ quan truyền thông khu vực không bị cuốn vào vòng xoáy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi thông tin về các vấn đề tranh chấp lãnh thổ đang có chiều hướng gia tăng, với tính chất ngày càng phức tạp, đe dọa hòa bình, ổn định và an ninh của khu vực.

Góp phần tích cực nhất vào quá trình xây dựng lòng tin

Ngay trong những ngày các nhà báo và quan chức ngoại giao của 13 nước châu Á có mặt tại thành phố Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc để tham dự Diễn đàn thì tình hình tranh chấp quần đảo Xen-ca-cư/Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng nóng lên. Bên cạnh đó là tranh chấp giữa Nhật Bản và Hàn Quốc xung quanh quần đảo Ta-kê-si-ma/Đốc-đô cũng rất căng thẳng. Còn ở Biển Đông, bất chấp phản đối của Việt Nam và các nước trong khu vực, Trung Quốc tiếp tục có những hành động gây căng thẳng ở Biển Đông, nơi đang có những tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Việt Nam và một số nước Đông Nam Á.

Chủ đề chung của Diễn đàn là hòa bình, phát triển hài hòa và hợp tác nhưng các ý kiến tập trung nhiều về vai trò của truyền thông trong việc thông tin các vấn đề tranh chấp chủ quyền biên giới, lãnh thổ, trong đó tập trung vào các điểm nóng nhất là tranh chấp chủ quyền các đảo giữa Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và tranh chấp Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á ở Biển Đông.

Trong báo cáo đề dẫn, Tổng biên tập Nhân dân nhật báo ông Wu Hengquan nêu quan điểm: Các cơ quan truyền thông khi thông tin về các sự kiện liên quan đến các tranh chấp thì họ không phải là người đứng ngoài các cuộc tranh chấp ấy, song, truyền thông phải có trách nhiệm tạo ra sự ổn định xã hội và giữ vững hòa bình ở khu vực. Ông đề nghị: Để viết về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước ASEAN một cách tốt hơn, báo chí các nước châu Á phải tạo ra nhiều hình thức hợp tác, phục vụ lợi ích nhiều bên của các nước trong khu vực. “Những tranh chấp lãnh thổ giữa một số nước trong khu vực là một thực tế mà chúng ta đang phải đối mặt. Các cơ quan báo chí phải đưa tin về các tranh chấp này một cách chính xác và khách quan. Báo chí phải góp phần tạo ra sự hiểu biết và nhận thức chung thay vì tạo ra sự hiểu lầm và nuôi dưỡng sự đối đầu. Sẽ rất nguy hiểm nếu chính sách ngoại giao của đất nước bị chủ nghĩa dân tộc cực đoan bắt làm con tin. Bảo vệ hòa bình, xây dựng môi trường phát triển hài hòa và thúc đẩy sự hợp tác hữu nghị phải là âm hưởng chủ đạo của truyền thông châu Á", ông Wu Hengquan nói.

Vấn đề thông tin về các tranh chấp ở khu vực nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà ngoại giao tham dự diễn đàn. Bà Đại sứ Bru-nây tại Trung Quốc Mac-da-len Teo khi đề cập vấn đề này nói rằng các nhà báo và các nhà ngoại giao đều có chung sứ mệnh là bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, nhưng sẽ rất nguy hiểm nếu các phương tiện truyền thông, khi thông tin về các vấn đề tranh chấp biên giới, lãnh thổ lại thổi vấn đề chủ nghĩa dân tộc lên quá nóng và hướng dư luận bạn đọc, công chúng đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Bà cũng lưu ý rằng, cùng với sự phát triển của các mạng xã hội, mỗi cá nhân đều có quyền tự do thông tin, tự do trình bày các ý kiến thì vai trò của các cơ quan truyền thông phải giúp bạn đọc nắm thông tin chính xác, đúng bản chất, kịp thời có những bình luận, phân tích để định hướng dư luận. Bà cũng cho rằng báo chí có tác động rất lớn đến các chính phủ và người dân, có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạch định chính sách và tác động mạnh đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của người dân nên thực sự phải xây dựng một nền truyền thông có trách nhiệm ở khu vực châu Á. Các cơ quan truyền thông ở mỗi nước có trách nhiệm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng đồng thời phải hướng đến lợi ích chung của cả khu vực. Châu Á, hơn bao giờ hết đang cần môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, truyền thông phải góp phần tích cực nhất vào quá trình xây dựng lòng tin, nâng cao sự hiểu biết và tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc. Chỉ trên cơ sở xây dựng lòng tin, sự hiểu biết, thông cảm lẫn nhau và tình hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc mới có thể xác lập và thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác và phát triển trên các lĩnh vực.

Tạo môi trường thuận lợi để các chính phủ giải quyết các tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế

Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, ông Nguyễn Văn Thơ cũng cho rằng, báo chí truyền thông có vai trò rất lớn trong việc xử lý và giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các nước. Nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở tiến trình giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình và một khi truyền thông tham gia vào việc kích động chủ nghĩa dân tộc có thể dẫn tới xung đột, phá vỡ ổn định, an ninh khu vực. Vì vậy, báo chí phải có một tiếng nói khách quan và cân bằng, tạo môi trường thuận lợi để các chính phủ giải quyết các tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế. Truyền thông châu Á, cả khu vực và từng quốc gia, phải là một nền truyền thông có trách nhiệm.

Ý kiến của các nhà báo Hàn Quốc, Nhật Bản, Phi-líp-pin, Trung Quốc, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a đều cho rằng, khi thông tin về các tranh chấp biên giới, lãnh thổ, các vấn đề liên quan đến lịch sử, các cơ quan truyền thông phải có thái độ thận trọng, trách nhiệm cao đối với những ý kiến và lập luận của mình. Không một đại diện truyền thông nào đồng tình với việc báo chí kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và cực đoan, vốn đang là một cản trở lớn trong việc giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các chính phủ và các quốc gia.

Ông Yoshibumi Wakamiya, Tổng biên tập Báo Asahi Shimbun của Nhật Bản cho rằng, một cơ quan truyền thông có trách nhiệm là biết cân nhắc những gì nên và không nên thông tin. Hiện đang có một xu hướng là khi thông tin về các vấn đề tranh chấp biên giới lãnh thổ, báo chí thường gắn với các sự kiện xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn vấn đề tranh chấp quần đảo Xen-ca-cư (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) giữa Trung Quốc và Nhật Bản đang gây nên những căng thẳng trong quan hệ hai nước được gắn với cuộc chiến tranh Nhật-Trung và vì vậy dễ kích động tâm lý dân tộc trong người dân. Ông cũng cho rằng, đối với truyền thông, tranh chấp biên giới lãnh thổ là một đề tài có sức thu hút. Báo chí của mỗi bên đều ra sức phê phán nhau và đứng trên lập trường của nước mình. Thật khó mà tìm được ở báo chí những nước liên quan đến tranh chấp một tiếng nói chung, cân bằng và khách quan.
Ông Jung Suk-koo, Tổng biên tập tờ Nhật báo Hankyoreh của Hàn Quốc cũng đánh giá: Báo chí có ảnh hưởng rất lớn đến công luận và có tác động mạnh mẽ đến các nhà hoạch định chính sách. Mỗi ý kiến, lập luận đưa ra, dù đã nhấn mạnh đến tính khách quan đều ít nhiều chứa đựng góc nhìn chủ quan. Rất hiếm bài viết được các bên liên quan nhìn nhận là thực sự khách quan và công bằng về tranh chấp biên giới lãnh thổ. Nếu không xử lý tốt các thông tin, các bài viết dễ gây ra những tác động tiêu cực đến dư luận. Ông cho biết, ở Hàn Quốc và Nhật Bản có tình trạng một số cơ quan báo chí bị các nhóm chính trị thao túng. Ông nói, báo chí không nên để bị các nhóm lợi ích chính trị lợi dụng. Báo chí phải phản ánh những thông tin và quan điểm mang lại lợi ích cho đất nước. Là nhà báo, chúng ta phải tránh sự lợi dụng của các nhóm chính trị theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Ông Peter Ong, trợ lý Tổng biên tập của tờ Lianhe Zaobao (Xin-ga-po) cho rằng, các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông cũng như các tranh chấp chủ quyền các đảo giữa Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản có thể làm ảnh hưởng quá trình hợp tác kinh tế ở Đông Á và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phục hồi kinh tế của thế giới. Các phản ứng nhiều chiều, gay gắt xung quanh các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ gần đây đã tạo nên những bất lợi cho sự ổn định khu vực và chính tâm lý chủ nghĩa dân tộc do các cuộc tranh luận về chủ quyền tạo ra đang làm cản trở đến quá trình đàm phán ngoại giao.

Ngoại giao báo chíÔng Yoshibumi (Báo Asahi Shimbun) nói rất đúng rằng: Nếu báo chí, truyền thông của các nước châu Á tự gây ra sự thù địch với nhau thì không có cách nào để làm cho tiếng nói châu Á có sức nặng trên trường quốc tế.

Để báo chí châu Á thực sự là đóng vai trò thúc đẩy giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, các đại biểu đều cho rằng, cần có nhiều hình thức giao lưu, trao đổi ý kiến nhằm tăng cường đối thoại, hợp tác, trao đổi thông tin để đi tới những nhận thức chung về phương hướng giải quyết những tranh chấp phù hợp với lợi ích của các quốc gia và lợi ích chung của cả khu vực. Mục tiêu mà truyền thông phải hướng tới khi thực hiện sứ mệnh thông tin và định hướng dư luận chính là hòa bình, ổn định, phát triển của cả khu vực. Khi thông tin về các vấn đề liên quan đến lợi ich quốc gia dân tộc mình, truyền thông của các nước châu Á phải có một tầm nhìn toàn cầu và nhân văn, không nên để thông tin gây ra sự hiểu lầm trong dư luận, ảnh hưởng đến lợi ích chung của khu vực.

Không khó để nhận thấy một thực tế là trong lúc các cuộc tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo ở châu Á đang tiếp tục leo thang, một sự kết hợp nguy hiểm giữa chủ nghĩa dân tộc với các vấn đề chính trị nội bộ ở một số nước đã làm trầm trọng thêm các tranh chấp. Một số cơ quan truyền thông ở một số nước đã đưa ra các bài viết với lời lẽ hiếu chiến khiến cho tâm lý chủ nghĩa dân tộc ngày một dâng cao. "Sự huy động văn hoá" này đã gây ra sự kích động đối với một bộ phận dân chúng mà trong một số trường hợp đã vượt ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền và là nguyên nhân gây ra sự bất ổn chính trị ở ngay trong từng quốc gia.

Lúc này đây, giữa các quốc gia có yêu sách và đòi hỏi về chủ quyền, vấn đề rất quan trọng là xây dựng lòng tin và mở ra ngày càng nhiều cơ hội đối thoại hơn nữa. Và truyền thông là một phương tiện quan trọng để thúc đẩy tiến trình này. Thay vì những bài viết với lời lẽ hiếu chiến, kích động tâm lý chủ nghĩa dân tộc cực đoan, gieo rắc hận thù và sự nghi kỵ, báo chí và truyền thông các nước cần định hướng dư luận và tác động lên các nhà hoạch định chính sách đề ra và thực thi các biện pháp giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Trên báo chí nên loại bỏ những tiếng nói cực đoan, gây hận thù, chia rẽ, dọa nạt sử dụng vũ lực... gây phức tạp thêm tình hình. Tuyên truyền về lòng yêu nước khác hẳn với tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Tuyên truyền về chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chỉ khoét sâu thêm sự nghi kỵ, phá vỡ lòng tin, chặn mọi ngả đường dẫn đến các cuộc đàm phán và đối thoại, rất dễ châm ngòi cho các cuộc xung đột quân sự.

Báo chí và ngoại giao có nhiều điểm chung- đúng như bà Đại sứ Bru-nây đã khẳng định. Mỗi nhà báo đồng thời phải là một nhà ngoại giao và phương tiện trong tay họ phải thực sự là những nhịp cầu hữu nghị đưa các quốc gia, các chính phủ, các dân tộc, các chính khách và nhân dân các nước đến với nhau trong sự gần gũi và thân thiện. Cũng bằng các phương tiện truyền thông phải thu hẹp đến mức tối đa những khác biệt và bất đồng, không để những nhận thức khác nhau ngày càng lớn lên, gây nên sự hiểu lầm và chia rẽ. Nguồn gốc của mọi cuộc xung đột và chiến tranh chính là những sự hiểu lầm và chia rẽ như vậy.

Có hay không một hình thức ngoại giao báo chí? Chắc chắn là có. Mỗi chính phủ cần sử dụng tối đa sức mạnh truyền thông để giới thiệu hình ảnh của mình với thế giới. Và chắc chắn hình ảnh đó phải là hình ảnh một đất nước hòa bình, hữu nghị, thân thiện, hợp tác và phát triển chứ không phải là hình ảnh của một quốc gia hiếu chiến, bất chấp luật pháp, bất chấp đạo lý, dùng sức mạnh để lấn át và bắt nạt nước khác.

Một nền truyền thông có trách nhiệm ở châu Á lúc này sẽ là động lực quan trọng để các chính phủ và nhân dân các nước trong khu vực hướng đến những mục tiêu chung và lợi ích chung là hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển, đưa châu Á thành một khu vực hòa bình, yên ổn và thịnh vượng. “Sự huy động văn hóa” hay “huy động truyền thông” ở mỗi quốc gia đều phải lấy lợi ích chung làm trọng. Lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc là trên hết nhưng phải đặt trong tổng thể lợi ích khu vực và toàn cầu. Và trong xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay, xu thế chính vẫn là hòa bình, hợp tác, phát triển, các quốc gia cùng nỗ lực giải quyết các thách thức toàn cầu, không quốc gia nào có thể đem lợi ích của mình đối chọi với lợi ích quốc gia khác.

Một nền truyền thông trách nhiệm là sứ mệnh và lương tâm, đạo đức của các nhà báo ở mỗi quốc gia. Các mạng xã hội, các blog cá nhân, các phương tiện truyền thông mới hiện đang là cơ hội và cũng là thách thức chung đối với các phương tiện thông tin đại chúng truyền thống ở tất cả các nước. Trước những thông tin trái chiều lan truyền trên các mạng xã hội người dân sẽ tìm đến các tờ báo chính thống, các đài phát thanh, truyền hình. Các cơ quan truyền thông này có trách nhiệm chỉ ra cho người đọc, người xem, người nghe đâu là đúng và đâu là sai, cái gì nên và cái gì không nên? Sứ mệnh định hướng dư luận vẫn thuộc về các phương tiện truyền thông truyền thống.

Châu Á đã trải qua các thế kỷ chiến tranh và xung đột. Hận thù, đối đầu, sự nghi kỵ... đã từng một thời gây ra biết bao đau khổ cho người dân các nước trong khu vực. Một châu Á với những triển vọng về một tương lai phát triển được đánh giá là nhiều tiềm năng nhất thế giới hơn bao giờ hết cần một nền hòa bình và ổn định bền vững để các dân tộc chung tay, góp sức xây dựng một khu vực thịnh vượng, trong đó tất cả các dân tộc đều được tôn trọng độc lập, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, cùng bắt tay nhau hợp tác, cùng thắng, cùng phát triển. Với sứ mệnh và trách nhiệm cao cả của mình, báo chí và các phương tiện truyền thông châu Á cần tạo ra thêm nhiều cơ hội để hợp tác và chia sẻ thông tin, loại ra khỏi cuộc chơi những tiếng nói lạc lõng đi ngược lại lợi ích của cả khu vực.

Phúc Nguyên

Cách mạng tháng Mười và bài học Đảng phải "hiểu được đúng ý nguyện của nhân dân"

Cách đây 95 năm, ngày 7-11-1917, khát vọng được giải phóng, được làm chủ xã hội, làm chủ cuộc sống của quần chúng nhân dân lao động Nga đã được ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin soi rọi, thức tỉnh, làm nên cuộc cách mạng vĩ đại “rung chuyển thế giới”, mở ra một thời đại mới, thời đại nhân dân lao động làm chủ, đứng ra tổ chức xây dựng và cai quản chế độ xã hội mới, chế độ không còn người bóc lột người. Cuộc cách mạng vô sản vĩ đại này đã tỏ rõ vai trò tiên phong và khả năng tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân của Đảng Cộng sản trong đấu tranh giành chính quyền, lật đổ chế độ xã hội cũ, đưa nhân dân lao động lên làm chủ, xây dựng chế độ xã hội mới, thay đổi căn bản địa vị của họ trong xã hội; đồng thời cho thấy rõ vai trò động lực và sức sáng tạo to lớn của quần chúng nhân dân lao động trong tiến trình cách mạng. 
Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã tập trung công sức đặc biệt cho vấn đề củng cố chính quyền xô viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân. Sắc lệnh hòa bình và Sắc lệnh ruộng đất được ban hành ngay sau cách mạng thành công đã đáp ứng được “ý nguyện” của quần chúng nhân dân lao động Nga về một cuộc sống hòa bình, tự do và hạnh phúc. Nếu như khát vọng được giải phóng, được làm chủ xã hội đã tạo nên động lực to lớn, làm bùng lên những hành động cách mạng “long trời lở đất”, “phá tan cảnh đọa đày của nước Nga tư sản”[1], thì “ý nguyện” của quần chúng nhân dân về cuộc sống hòa bình, tự do, hạnh phúc là sự nối tiếp khát vọng làm chủ ấy trong điều kiện mới, tạo động lực mới cho công cuộc xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội mới. V.I.Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích Nga đã “hiểu đúng ý nguyện” của quần chúng nhân dân lao động Nga và làm bùng lên “ý nguyện” đó thành sức mạnh vật chất, thành những hành động cách mạng của chính quần chúng nhân để họ thực hiện “ý nguyện” và khát vọng của mình. Bản chất cách mạng, tính nhân dân và giá trị thực sự của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga chính là ở chỗ đó.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên xô theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, khoa học, quốc phòng, an ninh. Điều đó càng cho thấy khả năng sáng tạo to lớn của quần chúng nhân dân khi họ được giải phóng, được làm chủ xã hội. Mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, đem lại cuộc đời làm chủ và hạnh phúc thực sự cho quần chúng nhân dân mà chủ nghĩa Mác - Lê-nin vạch ra đã được Cách mạng Tháng Mười Nga và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội khẳng định và chứng minh.

Để đáp ứng yêu cầu của một đảng cầm quyền, một đảng thực sự toàn tâm toàn lực chăm lo cuộc sống của nhân dân, V.I.Lê-nin đã dành nhiều công sức tập trung xây dựng Đảng Bôn-sê-vích Nga thật sự là Đảng “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”[2]. Theo V.I.Lê-nin, Đảng phải biết lãnh đạo, biết tập hợp và phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ chế độ xã hội mới. Điều đó đòi hỏi Đảng phải được xây dựng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải khắc phục triệt để những căn bệnh, những nguy cơ làm suy yếu Đảng. Đảng phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, thực hiện tự phê bình và phê bình, kỷ luật tự giác, nghiêm minh, thực hiện đoàn kết thống nhất trong Đảng...- những nguyên tắc căn bản trong xây dựng và hoạt động của Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. V.I.Lê-nin đòi hỏi Đảng phải “hiểu được đúng ý nguyện của nhân dân"; Người khẳng định: “chỉ khi nào hiểu được đúng ý nguyện của nhân dân, thì chúng ta mới quản lý nhà nước được"[3]. Trong chỉ đạo thực tiễn, V.I.Lê-nin vạch rõ ba kẻ thù chủ yếu và là nguy cơ làm suy yếu Đảng trong điều kiện mới, điều kiện Đảng cầm quyền là tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa, nạn mũ chữ và nạn hối lộ, tham nhũng, đó là “cái ung nhọt” cần phải loại trừ. Với thái độ “không khoan nhượng” trong đấu tranh loại bỏ các “ung nhọt”, Người yêu cầu phải kiên quyết “đuổi ra khỏi đảng" những "người đã len lỏi vào đảng”[4]; “cần phải đuổi ra khỏi đảng những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược”[5].

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn tám thập kỷ qua cho thấy những thắng lợi vĩ đại và huy hoàng của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng luôn “hiểu đúng ý nguyện của quần chúng nhân dân”, một lòng, một dạ phấn đấu hi sinh thực hiện “ý nguyện” ấy; đồng thời khẳng định mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân trong chỉnh thể thống nhất. Quá trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định sức mạnh “rời non, lấp biển” của sự thống nhất giữa “ý Đảng - lòng dân”; chứng minh sức mạnh của sự thống nhất giữa lý tưởng của Đảng với khát vọng “không có gì quý hơn độc lập tự do” của nhân dân Việt Nam; sức mạnh của sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân trong mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn Cách mạng Tháng Mười và cách mạng Việt Nam đã khẳng định: lý do ra đời, tồn tại và mục tiêu hoạt động của Đảng là vì nhân dân, vì độc lập tự do và hạnh phúc của nhân dân; nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng là từ nhân dân, ở trong nhân dân; và Đảng là của dân, vì dân, dân một lòng một dạ theo Đảng; Đảng quan tâm chăm lo đến dân, dân sống chết chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng. Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử; toàn bộ hoạt động của Đảng là xuất phát từ lợi ích và “ý nguyện” chính đáng của nhân dân.

Bài học của Cách mạng Tháng Mười và thực tiễn cách mạng Việt Nam chỉ ra rằng, “Đảng có vững cách mệnh mới thành công”[6]. “ý nguyện” của nhân dân Việt Nam lúc này là mong muốn Đảng ta thật sự khỏe mạnh, thật sự “vững”, như thế mới có thể lãnh đạo được toàn thể dân tộc hoàn thành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong tình hình hiện nay, Đảng ta đã xác định trúng vấn đề khi khẳng định nhiệm vụ “then chốt” là xây dựng Đảng và mũi “đột phá” của nhiệm vụ “then chốt” ấy là khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ tham nhũng. Tính nguy hiểm của tình trạng này là rất nghiêm trọng, nó đe dọa đến chính sự tồn vong của Đảng và chế độ như Đảng ta đã nhấn mạnh. Sự rung chuyển và tầm ảnh hưởng của vấn đề “đột phá” này là rất lớn. Sức sống, sức đề kháng của cơ thể Đảng, cơ thể chế độ và đất nước phụ thuộc rất quyết định vào việc chúng ta giải quyết vấn đề “đột phá” này như thế nào.

Khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ bị rạn nứt, chia rẽ, suy yếu, lòng dân sẽ bị ly tán..., sự tồn vong của chế độ và của Đảng sẽ bị đe dọa, nếu tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, cấp cao không được ngăn chặn, khắc phục hiệu quả mà vẫn gia tăng. Đây là vấn đề rất khó, nhưng khó mấy chúng ta cũng phải làm và phải làm thật tốt. Quyết tâm chính trị này đã được Đảng ta nhấn mạnh tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, được triển khai thực hiện mạnh mẽ, nghiêm túc tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, cần phải được tiếp tục thực hiện hiệu quả trong thực tiễn xây dựng Đảng.

Sự nghiệp xây dựng Đảng trước hết là sự nghiệp của bản thân Đảng. Đảng ta chỉ có thể đủ sức lãnh đạo, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh khi Đảng ta và toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng thực sự "không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân"[7]; khi Đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng luôn “hiểu đúng” và đáp ứng “ý nguyện” của nhân dân. Vì thế, yêu cầu rất cao đối với mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, đặc biệt là cán bộ cấp cao trong lúc này là phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu, phải “phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”[8] như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng răn dạy.

Bài học của Cách mạng Tháng Mười cũng chỉ ra rằng, sức mạnh của quần chúng nhân dân là hết sức to lớn, tai mắt của quần chúng nhân dân là hết sức khách quan, tinh tường. Sự nghiệp xây dựng Đảng không phải là sự nghiệp của riêng Đảng, mà đó là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay Đảng cần phát huy vai trò và tinh thần làm chủ của quần chúng nhân dân và các tổ chức quần chúng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; trong giám sát các hoạt động của cán bộ, đảng viên; trong đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; trong xây dựng Đảng. Đó là biểu hiện sinh động việc Đảng đưa quần chúng nhân dân vào công cuộc xây dựng Đảng, thực hiện “ý nguyện” và mong ước của chính quần chúng nhân dân về Đảng mến yêu của mình phải thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức đưa đất nước tiến lên trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

PGS, TS NGUYỄN MẠNH HƯỞNG[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 2002, tập 8, tr. 558, 559.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, M. 1976, tập 34, tr. 122.

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, M. 1978, tập 45, tr. 134.

[4] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, M. 1978, tập 44, tr. 24.

[5] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, M. 1978, tập 44, tr. 154.

[6] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 2, tr 268

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 66.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 11, tr. 373.